Khai thác bô-xit Tây Nguyên: góc nhìn kỹ sư (tái bút)

Khai thác bô-xit Tây Nguyên: góc nhìn kỹ sư (tái bút)

Đặng Đình Cung
Kỹ sư tư vấn

Tái bút – Phản biện Báo cáo Chính phủ gửi Quốc hội

Báo cáo của Chính phủ gửi Quốc hội về bô-xít đề cập đến gần hết những quan tâm của giới khoa học trong và ngoài nước1. Nhưng có nhiều điểm chúng tôi không hoàn toàn đồng ý hay thấy cần phải khai triển thêm.

Trong bài này, chúng tôi xin rà lại từng đoạn Báo cáo của Chính phủ gửi Quốc hội và xin chua thêm những kiến nghị của chúng tôi.

Toàn văn báo cáo của Chính phủ gửi Quốc hội về bô-xít

I. Về Quy hoạch phân vùng thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng bô-xít giai đoạn 2007 – 2015, có xét đến năm 2025 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 167/2007/QĐ TTg ngày 01 tháng 11 năm 2007.

1. Nguồn tài nguyên bô-xít:

Khi đánh giá một tụ quặng người ta phân biệt

(a) trữ lượng địa chất (geological reserve) nghĩa là trữ lượng có thể khai thác được với khả năng kỹ thuật hiện đại;

(b) và trữ lượng kinh tế (economical reserve) nghĩa là một phần của trữ lượng địa chất có thể khai thác có lợi với giá niêm yết hiện nay của sản vật.

Theo USGS (US Geological Survey, Cục Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ) thì trữ lượng kinh tế là 2,1 tỷ tấn và trữ lượng địa chất là 5,4 tỷ tấn2. Khi lập kế hoạch kinh tế cho một nước thì người ta dùng trữ lượng kinh tế chứ không lấy trữ lượng địa chất. Nếu lấy trữ lượng địa chất thì sẽ dẫn đến một kế hoạch quá lạc quan. Với 2,1 tỷ tấn Việt Nam đã xếp hạng ba thế giới rồi.

Báo cáo này không nói đến những mỏ ở ngoài Bắc và ven biển Trung Bộ đang được triển khai hay đang được nghiên cứu nêu trong Quyết định 167/2007/QĐ TTg. Những mỏ này nhỏ và, suy ra, chắc có tỷ số lợi nhuận thấp hơn. Khi lập kế hoạch khai thác thì người ta bắt đầu khai thác trước những mỏ có triển vọng mang lại tỷ số lợi nhuận lớn nhất. Như vậy có nghĩa là phải khai thác cho hết tất cả quặng ở Tây Nguyên trước khi nghĩ đến khai thác mỏ ở những nơi khác.

2.Quan điểm phát triển:

Chúng tôi có hai nhận xét :

(a) Kế hoạch này rất lớn, ảnh hưởng đến cả một vùng trọng điểm của lãnh thổ quốc gia. Theo Nghị quyết 66/2006/QH11 thì Chính phủ phải xin ý kiến Quốc hội trước khi ban hành Quyết định 167/2007/QĐ TTg;

(b) Những điều viết ở phần này đều chí lý. Nhưng chỉ là chủ tâm. Theo nguyên tắc của bảo đảm chất lượng (vòng tròn PDCA của Deming) thì Chính phủ phải trình Quốc hội những việc sẽ làm, phương pháp kiểm tra việc sẽ làm và chỉ tiêu để có thể chấp nhận những việc đã làm.

Trên phương diện những chỉ tiêu chấp nhận, hiện nay chúng ta thiếu trầm trọng những tiêu chuẩn về chất thải phế liệu. Để đi tắt, chúng ta cần dịch nguyên văn những tiêu chuẩn ISO và tiêu chuẩn của Hội đồng Âu châu. Ngoài ra, chúng ta còn phải đào tạo thêm đội ngũ chuyên gia về môi trường và tăng cường đầu tư về thiết bị kiểm tra. Dùng những tiêu chuẩn tiên tiến khắt khe sẽ xếp nước ta vào loại những nước văn minh và, nhất là, sẽ khích động công nghiệp ta tiến bộ và làm ăn có hiệu quả.

3. Nội dung chủ yếu của Quy hoạch:

Chúng tôi có hai nhận xét :

(a) Tầm vóc của kế hoạch cho thấy Chính phủ không thể viện cớ những nhà máy Tân Rai và Nhân Cơ nhỏ không cần phải tuân thủ Nghị quyết 66/2006/QH11;

(b) Kế hoạch trình bày trong Quyết định 167/2007/QĐ TTg không dự tính đến toàn bộ dây chuyền chế biến bauxit – alumin (nhôm oxit) – nhôm – thương phẩm bằng nhôm. Kế hoạch vi phạm Đoạn 4, Điều 5 của Luật Khoáng sản “hạn chế xuất khẩu khoáng sản dưới dạng nguyên liệu thô, tinh quặng”.

II. TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CÁC DỰ ÁN TRONG QUY HOẠCH

1. Dự án Tổ hợp bô-xít – nhôm Tân Rai (Lâm Đồng)

Nghị quyết 66/2006/QH11 ban hành năm 2006, công văn 303/CP CN ban hành năm 2000, công văn 808/TTg CN ban hành năm 2005 và Quyết định 167/2007/QĐ TTg ban hành năm 2007. Nghị quyết của Quốc hội ban hành sau hai Công văn nên không thể áp dụng cho hai Công văn nêu trên. Nhưng Quyết định nêu trên phải có ý kiến của Quốc hội trước khi ban hành.

Trên nguyên tắc, những Công văn chỉ đạo phương pháp thi hành một Quyết định của Thủ tướng. Chúng tôi không hiểu quy trình lập những văn bản Chính phủ.

2. Dự án khai thác bô-xít và sản xuất alumin Nhân Cơ (Đăk Nông 1)

3. Các dự án khai thác, chế biến bô-xít khác

4. Dự án tuyến đường sắt Tây Nguyên – Bình Thuận

Chính phủ cần trình Quốc hội vốn đầu tư và chi phí vận hành đường sắt này có tính vào dự án khai thác bô-xit Tây Nguyên hay không. Nếu không tính thì những công ty tham gia vào dự án trả phí giao thông ra sao, ảnh hưởng đến tỷ số lợi nhuận của các công ty đó là bao nhiêu.

5. Dự án đầu tư xây dựng công trình cảng Kê Gà – Bình Thuận

Cũng như với đường sắt Tây Nguyên – Bình Thuận, Chính phủ cần trình Quốc hội vốn và chi phí vận hành cảng Kê Gà – Bình Thuận này có tính vào dự án khai thác bô-xit Tây Nguyên hay không. Nếu không tính thì những công ty tham gia vào dự án trả tiền sử dụng hạ tầng cảng ra sao, ảnh hưởng đến tỷ số lợi nhuận của các công ty đó là bao nhiêu.

III. MỘT SỐ Ý KIẾN GÓP Ý VỀ VIỆC TRIỂN KHAI THỰC HIỆN QUY HOẠCH CÁC DỰ ÁN BÔ-XÍT

Cũng như với nhà máy điện cho dự án, tất cả những hạ tầng hậu cần phải dùng cho một dự án là những hạng mục của dự án đó, không thể tách rời và nối liền với một hệ thống nào khác.

(a) Vận tải bằng đường sắt bao giờ cũng rẻ hơn và tôn trọng môi trường thiên nhiên hơn là vận tải bằng xe ô tô.

(b) Nếu xuất khẩu nhôm và sản phẩm làm bằng nhôm thì trọng tải sẽ giảm ít nhất một nửa so với xuất khẩu alumin. Suy ra, vốn đầu tư và chi phí vận hành các hạ tầng hậu cần cũng sẽ giảm.

(c) Chở bằng đường bộ thì có phải xây một xa lộ chuyên dụng hay dùng quốc lộ 28 hiện có? Nếu xây một xa lộ chuyên dụng thì vốn đầu tư và chi phí bảo trì và điều hành xa lộ đó đã tính vào dự án chưa ? Nếu dùng quốc lộ 28 thì vốn đầu tư để nâng cấp và chi phí bảo trì và điều hành do ai chịu ?

IV. BÁO CÁO CỦA CHÍNH PHỦ VỀ CÁC Ý KIẾN GÓP Ý

1. Về chủ trương phát triển ngành công nghiệp khai thác bô-xít, sản xuất alumin và luyện nhôm.

Những nước biết kiềm chế khai thác tài nguyên thiên nhiên trong giới hạn tỷ lệ nhỏ của tổng sản lượng quốc nội (GNP, Gross National Product) như Australia, Hoa Kỳ, Canada,… đã trở nên những cường quốc công nghiệp. Còn những nước khác đã suy thoái đến độ không thể ngóc đầu lên được nữa. Chúng tôi không nói tương lai của Việt Nam sẽ đen tối như Đảo quốc Nauru, nhưng kế hoạch của Chính phủ về khai thác mỏ nói chung và mỏ bô-xit nói riêng có tiềm năng dẫn nước ta xuống hàng các nước phải đi ăn xin viện trợ quốc tế để tồn tại3.

2. Về việc lập và phê duyệt Quy hoạch

Một hồ sơ đánh giá dự án gồm bốn phần :

(a) khả thi kinh tế (chia ra làm lợi ích của xí nghiệp, lợi ích của Nhà Nước và lợi ích của nhân dân);

(b) tác động đến môi trường;

(c) tác động đến văn hoá xã hội địa phương;

(d) đóng góp cho tiến bộ công nghệ.

Báo cáo nghiên cứu khả thi (FS) và Báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) chưa đủ. Các nước công nghiệp tiên tiến còn đánh giá thêm tác động văn hóa – xã hội (ĐTVX). Đối với Việt Nam, một nước muốn tiến lên thành một quốc gia công nghệ hậu công nghiệp thì phải đánh giá thêm đóng góp cho tiến bộ công nghệ cho Việt nam. Những tập đoàn công nghiệp quốc tế thường cũng đánh giá thêm đóng góp cho tiến bộ công nghệ của tập đoàn họ khi nghiên cứu một dự án kinh doanh.

“Việc Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch là đảm bảo đúng Luật” không đúng với phát biểu của ông Trần Phương ở hội thảo ngày 23-10-2008 : “do vấn đề cần thiết của việc khai thác bô-xit và đặc thù của địa phương nên khi phê duyệt quy hoạch phân vùng khai thác bô-xit ở Tây nguyên, Thủ tướng đã miễn cho cơ quan trình quy hoạch lúc đó là Bộ Công thương lập đánh giá môi trường chiến lược”4.

Như Dân biểu Nguyễn Minh Thuyết đã nêu : “cứ tách từng dự án ra để nói rằng nó chưa đến số tiền Quốc hội yêu cầu đưa vào công trình trọng điểm quốc gia, tôi cho như thế là lách luật”5. Dù đã “cắt khoanh giò” dự án như thế, Chính phủ vẫn vi phạm các Đoạn 1 và 2, Điều 2 của Nghị quyết 66/2006/QH11 vì:

(a) Chỉ riêng có dự án Tân Rai quy mô vốn đầu tư có sử dụng hơn một nửa vốn Nhà Nước vì TKV là một công ty quốc doanh;

(b) Dự án và các công trình có ảnh hưởng lớn đến môi trường hoặc tiềm ẩn khả năng ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường.

Dù tài ba tới mấy chăng nữa một cá nhân, một nhóm chuyên gia hay một bộ phận Nhà nước cũng không bao giờ sáng suốt bằng 85 triệu người dân. Quốc hội là tập hợp các đại biểu của dân. Nếu đã tham khảo Quốc hội trước thì Bộ Công thương đã không phải “tiến hành công tác triển khai việc rà soát tình hình triển khai các dự án, cập nhật tình hình và dự báo mới nhất về tác động của cuộc khủng hoảng tài chính – kinh tế toàn cầu, từ đó đề xuất điều chỉnh dự án Quy hoạch bô-xit cùng với việc lập Báo cáo đánh giá tác động môi trường chiến lược để trình duyệt theo quy định”.

3. Về việc triển khai các dự án bô-xít

Trong thư ngày 20-05-2009, Đại tướng Võ Nguyên Giáp kêu gọi “dừng các dự án khai thác bô-xít ở Tây Nguyên, kể cả khai thác thí điểm”. Việc này có thể thực hiện được trừ dự án Tân Rai. Chúng ta chỉ còn nước là ghép Kỹ sư vào công trình thiết kế của Chalieco để học kinh nghiệm thiết kế và xây dựng của họ và dùng cơ sở Tân Rai làm thí điểm đào tạo tay nghề (từ lao động phổ thông đến kỹ sư) và làm trung tâm nghiên cứu khoa học kỹ thuật. Một thí điểm 466 triệu USD quả là đắt. Nhưng bây giờ còn làm gì được nữa một khi đã hấp tấp ký hợp đồng mà không suy nghĩ trước ?

4. Về lựa chọn sản phẩm của các dự án

Lý do ngưng dây chuyền chế biến bauxit – alumin – nhôm   thương phẩm bằng nhôm ở khâu alumin vì thiếu điện hay điện đắt là không đúng. Bộ trưởng Công thương dựa trên những sai lầm của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) về chiến lược đầu tư và phép tính giá thành điện. Nhà máy điện dùng cho một dự án là một hạng mục của dự án đó, không thể tách rời và nối liền với một hệ thống nào khác. Không ai cộng công suất ổ phát điện của những xe hơi vào công suất điện của EVN và không ai bỏ công ra tính riêng giá thành điện sản xuất nhờ những ổ phát điện đó ! Tây Nguyên có thể coi là bình điện của Việt Nam, tại sao lại có chuyện thiếu điện và điện đắt cho dự án bô-xit Tây Nguyên được ? Ngoài ra giá trị gia tăng của khâu điện phân lớn hơn nhiều tiền lãi đầu tư và chi phí vận hành một nhà máy chế biên alumin thành nhôm. Khi xuất khẩu alumin chúng ta biếu nước khác giá trị gia tăng đó.

5. Về quy hoạch sản lượng các dự án

Theo Nghị quyết 66/2006/QH11 và để tôn trọng nguyên tắc Nhà nước pháp quyền, sau khi rà soát điều chỉnh thì Chính phủ phải trình lại kết quả nghiên cứu trước Quốc hội để xin ý kiến.

6. Về địa điểm đặt nhà máy alumin

Chúng tôi đồng ý với Thông báo 14 TB/TW của Bộ chính trị “các nhà máy chế biến alumin và luyện nhôm cần đặt tại tỉnh Đăk Nông”. Trên phương diện kỹ thuật, phải đặt tất cả dây chuyền chế biến bauxit – alumin – nhôm – thương phẩm bằng nhôm để tận dụng phương pháp sản xuất đúng mức đúng lúc (lean and just in time manufacturing). Trên phương diện chính trị nhân dân Tây Nguyên sẽ không hiểu tại sao bô-xit thì đào ở đất mình, bùn đỏ thì ô nhiễm môi trường của mình để alumin được xuất khẩu và trở về địa phương mình dưới dạng những sản phẩm tiêu dùng bằng nhôm.

7. Về diện tích chiếm đất, rừng của các dự án

Dự án khai thác bô-xit sẽ vi phạm một diện tích tương đối nhỏ so với diện tích tỉnh Đắk Nông và Lâm Đồng nhưng không vì thế mà miễn việc nghiên cứu tác động môi trường và tác động văn hóa xã hội. Chỉ nên thực hiện dự án khi những tác động tiêu cực có thể chấp nhận được đối với nhân dân địa phương và đem lại tỷ số lợi nhuận cao.

8. Về công nghệ áp dụng

Theo nguyên tắc bảo đảm chất lượng, việc thực hiện những cam kết và đảm bảo này phải được kiểm tra thường xuyên, kết quả mỗi đợt kiểm tra phải được công bố, và Chính phủ phải ra lệnh dừng hoạt động cơ sở nào không tôn trọng những cam kết đó.

9. Về hạ tầng cơ sở và đào tạo nguồn nhân lực cho dự án:

Vì không có đủ thông số kỹ thuật chúng tôi chỉ xin gợi vài ý kiến liên quan đến phần này.

a) Cung cấp nước :

Vấn đề nước có thể không đặt ra nếu bơm nước Biển Đông lên Tây Nguyên để pha loãng nước chứa trong bùn đỏ, dùng nước lọc và rửa bùn đỏ ở khâu pha loãng hỗn hợp bauxit, hydroxit natri. Đây có thể là một đề tài Tiến sĩ cho một nghiên cứu sinh mà nếu có kết quả khả quan thì xin cấp văn bằng sáng chế quốc tế làm tài sản công nghệ cho đất nước.

b) Vận chuyển alumin :

Với khối lượng alumin phải vận chuyển, tuyến đường sắt này phải là một tuyến chuyên dụng và là một hạng mục của dự án.

Quy ra mỗi km/tấn hay mỗi km/m3, chở thương phẩm từ Tây Nguyên ra Bình Thuận thì giá cước rẻ hơn là chở nhôm, chở nhôm thì rẻ hơn là chở alumin (tới khoảng hai lần), chở alumin thì rẻ hơn bô-xit (tới ít nhất ba lần, tùy hàm lượng Al2O3). Ngoài ra, điện có sẵn tại chỗ để biến chế nguyên liệu thành thương phẩm và có nhân lực để sản xuất (sau khi được đào tạo). Nhờ địa thế thuận lợi ba nhân tố sản xuất tập trung ở cùng một nơi, chúng ta có thể chế biến bô-xit thành thương phẩm với giá thành rẻ hơn trung bình thế giới vì quy luật của phương pháp sản xuất đúng mức đúng lúc được dàn ra toàn bộ hơn.

c) Cung cấp điện :

Như viết ở một phần trên, điện không phải là một vấn đề ở Tây Nguyên.

d) Về nguồn lực cho các dự án:

Theo TS. Nguyễn Đông Hải, Nhà văn Nguyên Ngọc và TS. Nguyễn Thành Sơn thì : “theo số liệu điều tra, khảo sát của Trường Đại học Tây Nguyên, trong 12 buôn làng của huyện Đắk Rlap, số người học hết lớp 9 để có đủ điều kiện tuyển dụng vào dự án cũng “chỉ đếm trên đầu ngón tay”. Dự án bô-xít Nhân Cơ mới chỉ tuyển chọn được 02 con em đồng bào dân tộc tại chỗ đi đào tạo công nhân. Hiện dự án bô-xít Nhân Cơ đang gửi người đi đào tạo tại Trung Quốc, nhưng chủ yếu là con em của cán bộ trong công ty từ các tỉnh khác đến. […]. Việc người dân tộc trên Tây Nguyên sẽ bị đẩy ra ngoài cuộc sống xã hội ngay trên quê hương của mình, thay vào đó là làn sóng di cư mới của những lực lượng lao động có đủ trình độ từ Trung Quốc và các tỉnh ngoài Tây Nguyên đã trở thành hiện thực”6.

Nhưng chúng ta không thể tuyển một người nếu người đó không có khả năng nghiệp vụ và chúng ta không thể chọn dạy nghề cho một người không có đủ học lực chỉ vì người đó là người dân tộc thiểu số. Khi xưa chúng ta đã chọn ưu tiên con cháu các vị có công với cách mạng và vẫn còn đang chịu hậu quả tai hại của chính sách kỳ thị này. Để giải quyết vấn đề này chỉ có một phương pháp. Chính quyền địa phương các tổ chức Đảng phải khuyến khích các dân tộc thiểu số coi trọng việc học của con cái và tạo điều kiện vật chất để những thành phần nghèo khó trong xã hội vẫn có thể cho con cái ăn học cho tới tối đa ý chí và khả năng của các cháu. Đây là trách nhiệm lớn nhất của một Nhà nước xã hội chủ nghĩa.

10. Về hiệu quả kinh tế   xã hội của dự án

a) Hiệu quả kinh tế:

Những hãng hay cơ quan tài chính đánh giá những dự án theo quan tâm của họ. Mình không thể dựa vào ý kiến của họ để quả quyết rằng dự án của mình tốt hay xấu.

Khi tính giá trị hiện tại thực thì phải dùng giá thị trường trung bình trong dài hạn chứ không dùng giá niêm yết ở thời điểm lấy quyết định. Chúng tôi không có đủ thông tin để ước lượng tỷ lệ hoàn vốn nội tại. Một tỷ lệ hoàn vốn nội tại 10/11 phần trăm là một tỷ lệ lớn. Nhưng chúng tôi không biết Bộ Công thương đã kể cả tỷ số vay vốn và tỷ số lạm phát khi tính giá trị hiện tại thực hay không. Nếu không kể đến thì tỷ lệ hoàn vốn nội tại này sẽ ít hơn và có thể âm, nghĩa là dự án lỗ vốn.

b) Hiệu quả xã hội, giữ gìn bản sắc văn hóa các dân tộc Tây Nguyên :

Vì không có đủ thông tin chúng tôi coi những số liệu về số hộ bị ảnh hưởng bởi dự án là đúng. Cũng như về diện tích chiếm đất, rừng của các dự án, tỷ lệ những hộ bị ảnh hưởng không có là bao nhiêu. Tuy nhiên vẫn cần phải phải tiến hành một chương trình nghiên cứu xã hội và nhân chủng học trước khi thực hiện dự án và sau khi đưa những công trình vào hoạt động. Ngoài khía cạnh hàn lâm, những nghiên cứu này sẽ giúp Chính phủ điều chỉnh chính sách dân tộc và cũng là cơ sở khoa học để công tác dân vận hữu hiệu hơn.

11. Về tác động môi trường của các dự án bô-xít

Ở các nước Tây phương, người ta cho phép thải ra thiên nhiên nước có pH ở trong khoảng cách 5 và 9. Để giảm pH từ 12,5 xuống dưới độ 9 thì có thể dùng một dung dịch acid (nghĩa là có độ pH dưới 7) để trung hòa kiềm hay pha loãng kiềm bằng nước. Ở phần 9.(a) chúng tôi có gợi ý dùng nước Biển Đông, nhưng bất cứ nguồn nước nào cũng có thể dùng được.

Mua công nghiệp của nước khác không đủ và có thể không thích hợp vì tác động tới môi trường thiên nhiên, cũng như tới đời sống văn hóa xã hội địa phương, tùy nhiều ở hoàn cảnh địa thế, địa chất và khí hậu địa phương. Những hậu quả tích cực nêu ở phần này cần được xác nhận bởi những công trình nghiên cứu khoa học về vấn đề ảnh hưởng của dự án đến môi trường thiên nhiên và đời sống văn hóa xã hội.

12. Về vấn đề người lao động nước ngoài tại dự án

Chúng tôi tiếc rằng Chính phủ đã ký những hợp đồng EPC (Engineering Procurement Construction). Đây là những hợp đồng mà các nước chậm tiến ưa chuộng vì không có cán bộ có kỹ năng và cũng chịu không thể thành lập một đội ngũ cán bộ có kỹ năng cho sau này. Chúng không đóng góp gì cho ta về tiến bộ công nghệ cả.

Chúng tôi không có điều gì nghi ngờ sự thành thật của những cam đoan hay dự định của Chính phủ về những người nước ngoài tại dự án. Nhưng, theo nguyên tắc của bảo đảm chất lượng, mỗi năm Chính phủ phải trình Quốc hội tình hình cụ thể của lao động người nước ngoài.

13. Vấn đề ảnh hưởng đến an ninh – quốc phòng của các dự án bô xít:

Để hành nghề tư vấn về chiến lược công nghệ công nghiệp chúng tôi cũng đã phải học về chiến lược quân sự. Tuy nhiên, chúng tôi không đề cập trong bài này vì an ninh quốc phòng không phải là những đề tài phô trương trên báo chí được.

V. Kết luận và kiến nghị:

Lẽ cố nhiên là Quốc hội có quyền “thường xuyên giám sát quá trình thực hiện các dự án bô-xít” và chúng tôi cũng xin đề nghị Quốc hội lập một Ủy ban giám sát dự án này chặt chẽ. Nhưng quyết định ở cấp Quốc hội là tiếp tục khai triển dự án, hủy bỏ dự án và hoãn lại thực hiện dự án.

Kiến nghị cá nhân chúng tôi gửi Quốc hội

Chúng tôi không phải là một nịnh thần.

Những văn bản Quốc hội thông qua mà chúng tôi đã tham khảo (Hiến pháp, Luật Kinh doanh, Luật Lao động, Luật Khoáng sản và Luật Bảo vệ Môi trường) đều đầy đủ và tương xứng với pháp quy các nước tiên tiến khác. Tuy nhiên, nguyên tắc Nhà Nước pháp quyền chưa được nhân dân và các vị lãnh đạo thấm nhuần. Vì nao núng muốn đưa nước ta lên hàng một cường quốc, Chính phủ đã vi phạm nhiều quy định của Quốc hội, đại diện của dân. Cũng vì nao núng đó, Chính phủ đã hấp tấp tạo ra những việc đã rồi mà không trình Quốc hội trước. Chúng tôi tin cậy ở sáng suốt của các vị Dân biểu xử lý nhắc nhở các thành viên Chính phủ phải tuân thủ triệt để pháp quy Nhà Nước để làm gương cho dân.

Chính phủ đã trình Quốc hội dự án bô-xit Tây Nguyên như là giải pháp duy nhất để phát triển kinh tế vùng này. Trên lãnh thổ và lãnh hải nước ta, đặc biệt ở vùng Tây Nguyên, có nhiều tài nguyên thiên nhiên khác chưa được khai thác mà báo cáo của Chính phủ không đề cập đến. Ngoài ra, từ khi có chính sách Đổi mới, kinh tế nước ta tăng trưởng mạnh mặc dù ngành khai thác mỏ chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ và tỷ lệ đó có xu hướng giảm. Như vậy không khai triển dự án bô-xit Tây Nguyên thì cũng không sao. Dự án này chỉ là một phương án trong số nhiều phương án khác có thể hay hơn. Chúng tôi xin Chính phủ so sánh lợi hại của tất cả các phương án để Quốc hội có thể chọn.

Chính phủ đã trình Quốc hội một báo cáo chủ yếu tập trung vào những dự án đang triển khai. Phương pháp cắt một dự án lớn thành nhiều dự án nhỏ có thể là một ý đồ “lách luật” để không trình Quốc hội một dự án lớn hơn nữa. Dự án lớn đó là quy hoạch kinh tế xã hội vùng Tây Nguyên. Thực ra thì vấn đề tiềm ẩn là vai trò của các ngành khai thác tài nguyên thiên nhiên trong kinh tế Việt Nam. Tùy chúng ta chọn lựa tốc độ khai thác những tiềm năng ấy và đặt tỷ trọng của những ngành khai thác ấy trong toàn bộ các hoạt động kinh tế nước ta ra sao thì chúng ta sẽ tiến lên hàng cường quốc hậu công nghiệp hay suy thoái đến không còn sức để ngóc lên được nữa. Chúng tôi xin các vị Dân biểu nâng thảo luận và những nghị quyết lên hàng những vấn đề lớn ảnh hưởng đến tương lai lâu dài của đất nước.

Về dự án bô-xit Tây Nguyên thì chúng tôi xin kiến nghị tiếp tục dự án nhà máy Tân Rai và hoãn lại những dự án mỏ bô-xit khác để có thì giờ :

(a) nghiên cứu kỹ hơn về khả thi về kinh tế, kỹ thuật (đặc biệt về môi trường) , văn hóa xã hội và hợp tác quốc tế;

(b) tăng cường đội ngũ cán bộ thanh tra kỹ thuật, thanh tra môi trường và thanh tra tài chính;

(c) nghiên cứu những cơ hội phát triển công nghệ qua dự án và đưa những cơ hội đó vào kế hoạch của những dự án khác;

(d) và thành lập một tập đoàn thiết kế và xây dựng công nghiệp có tiềm năng tham gia trực tiếp vào dự án Tân Rai, học hỏi tay nghề của Chalieco để thực hiện những dự án tương lai.

Nếu quyết định tiếp tục dự án Tân Rai thì chúng tôi xin đề nghị điều động thêm vốn để xây cùng một lúc một nhà máy điện phân ở Đắk Nông hay Lâm Đồng với công suất tương ứng với công suất của nhà máy alumin. Nhà máy điện phân này sẽ ưu tiên dùng điện của những nhà máy thủy điện địa phương.

Đặng Đình Cung

Nguồn : Bauxit Viet Nam

1Toàn văn báo cáo của Chính phủ gửi Quốc hội về bô-xít” đăng ở địa chỉ Internet
http://vietnamnet.vn/chinhtri/2009/05/849417/

2 USGS : “Bauxite and alumina” đăng ở địa chỉ Internet
http://minerals.usgs.gov/minerals/pubs/commodity/bauxite/mcs 2009 bauxi.pdf

3 Xin Quý Dân biểu tham khảo bài của chúng tôi “Công nghiệp khai thác mỏ“, đăng ở địa chỉ Internet
http://www.tapchithoidai.org/ThoiDai15/200915_DangDinhCung.htm/

4Khai thác quặng bôxit ở Tây Nguyên: Nhiều nguy cơ, chưa có giải pháp“, đăng ở địa chỉ Internet
http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=284683&ChannelID=17

5Không đưa dự án bô-xít ra Quốc hội là lách luật” đăng ở địa chỉ Internet
http://vietnamnet.vn/chinhtri/2009/05/849749/

610 lý do đề nghị tạm dừng dự án bô-xít Tây Nguyên” đăng ở địa chỉ Internet
http://www.tuanvietnam.net/vn/thongtindachieu/5543/index.aspx

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s