Trung quốc và các tranh chấp vùng biển Nam Trung Hoa – China and the South China Sea Disputes(1)

Mark J. Valencia – Lê  Hoàng-  Bauvinal chuyển ngữ
The International Institute for Strategic Studies
Oxford University Press 1995 

Giới thiệu:  

Bài nghiên cứu dưới đây của Mark J. Valencia được viết từ năm 1995, đến nay đã trải qua hơn 14 năm nhưng vẫn còn nguyên giá  trị. Những phân tích sâu sắc của Valencia vẫn còn được nhiều nhà nghiên cứu tham khảo khi tìm hiểu sâu hơn về tình hình khu vực ĐNÁ, biển đông. Động thái tăng cường quân sự không ngừng đặc biệt là hải quân TQ trong những năm gần đây và chính sách đối phó của Mỹ và các nước trong khu vực…càng cho thấy những ý kiến của Ông nêu ra chính xác đến nhường nào.

Vì vậy, dù cứ  liệu của bài viết dừng lại  ở những năm 1990-1995 nhưng với tầm nhìn và  phương pháp luận thoáng mở, bài viết nầy cần được đọc qua để hiểu hơn phương châm “Nói vậy mà không phải vậy” của các nhà lãnh đạo nước láng giềng phương bắc, làm nền tảng để độc giả lý giải chính sách “bất di bất dịch” về lãnh hải phi lý của họ trước khi tiến sâu vào nội dung của những bài viết được tuyển chọn trong tập tư liệu nầy. Xin trân trọng giới thiệu. 

  Nhóm chuyển ngữ Bauvinal 

Bản đồ lãnh hải trên biển Đông của Trung Quốc  

Xung đột trong các yêu sách và giải pháp khả thi trong vùng biển Nam Trung Hoa

Chọi Trâu

GIỚI THIỆU: BỐI CẢNH ĐỊA PHƯƠNG

Sau chiến tranh lạnh, Đông Nam Á rơi vào trạng thái địa chính trị  biến động mạnh mẽ. Mặc cho chính quyền Clinton ra sức trấn an, hầu hết các nước trong khu vực đều nhận thấy Mỹ tập trung nhiều hơn vào nội địa và các vấn đề Châu Âu, hiển nhiên là chấm dứt nhiệm vụ quân sự của mình trong vùng Đông Nam Á và làm xói mòn sự hiện diện của Nền hòa bình kiểu Mỹ(Pax Americana) trong khu vực Thái Bình Dương. Thực vậy, người ta cảm nhận càng rõ hơn là về lâu dài Mỹ không còn là chỗ dựa cho sự ổn định khu vực và nếu không có Mỹ thì các nước trong vùng sẽ ít bị kiềm chế trong việc khẳng định chính mình, càng đẩy mạnh các yêu sách lãnh thổ và hàng hải (1). Hơn nữa, quan hệ của Mỹ với cả Trung Quốc và Nhật Bản cũng bị xuống cấp, Đông Nam Á hiểu rằng một hoặc cả hai nước này sau cùng sẽ thay thế Mỹ, đóng vai trò thế lực thống trị trong vùng. Đặc biệt đáng quan tâm hơn cả là ý đồ lâu dài  của Trung Quốc.

Tàu TQ quần thảo trên biển Đông

Mặc dù mang tiềm năng xung đột, Đông Nam Á hiện đang có cơ hội xây đắp một nền hòa bình lâu dài đầu tiên trong suốt cả một thế hệ. Để đáp ứng phần nào lại bầu không khí sau Chiến tranh lạnh, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) đã bắt đầu quan tâm đến hợp tác an ninh, Indonesia đang bắt đầu khẳng định quyền lãnh đạo ở Đông Nam Á, Việt Nam bị cô lập và yếu ớt đã ôm chặt lấy ASEAN. Thời kỳ Chiến tranh lạnh kết thúc với một Campuchia xung đột đang tàn tạ và mối quan hệ gần gũi hơn bao giờ hết giữa Việt Nam và các nước trong khối ASEAN, cũng như bước dò dẫm nối lại quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc, đã vẽ ra toàn cảnh một quan hệ an ninh khu vực tích cực. Nhưng sự ngờ vực từ lịch sử, chịu đựng các tranh chấp lãnh thổ, cạnh tranh nhau các yêu sách hàng hải và gia tăng chi phí quân sự tổng hợp lại đã làm yếu đi viễn cảnh thành công trong cấu trúc an ninh khu vực đa phương.

Đặc biệt, tranh chấp về quần đảo Trường Sa (Spratly) ở biển Nam Trung Hoa đã biến thành trở ngại cho việc xây dựng cấu trúc an ninh đa phương. Trung Quốc, Việt Nam, Đài Loan, quần đảo Philippines, Malaysia và Brunei đều đưa ra yêu sách toàn bộ hoặc một phần của quần đảo TS(Spratly) và vùng biển phụ cận. Đáy biển chung quanh các đảo và rặng đá ngầm được xem là nơi tiền tàng các mỏ dầu khí, và các hòn đảo có ý nghĩa chiến lược trong phòng ngự tuyến đường biển, ngăn chận và giám sát cho cả các thế lực mạnh và  yếu(2). Các nước yêu sách ganh đua nhau đưa lực lượng quân sự chiếm đóng các đảo và rặng đá ngầm theo kiểu chắp vá (xem Bản đồ 1 và 2). Các tranh chấp về lãnh thổ và quyền tài phán đã dẫn đến xung đột và sẽ còn tiếp diễn, có lẽ đang khuyến khích những chia rẽ mới trong khu vực. Điều làm cho các tranh chấp này đặc biệt bùng nổ là nó được xem như dính líu đến thách thức về tính toàn vẹn lãnh thổ và về sức mạnh lẫn khả năng lãnh đạo của giới đương quyền. Các tranh chấp có thể dính líu đến quyền lợi về quyền đi lại trên biển và lợi ích kinh tế của Mỹ và Nhật, cộng thêm vào các quyền lợi của những nước yêu sách, vì vậy vấn đề tranh chấp ở biển Đông có thể trở thành một vấn đề về an ninh ảnh hưởng đến toàn khu vực.

Trung Quốc và  Đài Loan đòi hỏi rất nhiều quyền lợi trong vùng biển Nam Trung Hoa, ngoài toàn bộ các đảo nổi, hầu hết là dựa trên yếu tố lịch sử. Các yêu sách của Việt Nam cũng trên cơ sở đó dù ít hơn một chút, trong khi Philippines, Malaysia và Brunei đều đòi hỏi các phần nhỏ hơn. Các nước yêu sách trừ Brunei ra đều có quân đồn trú trên các đảo nơi họ đòi chủ quyền: Malaysia (3 đảo); Philippines (8 đảo); và Việt Nam (21 đảo). Đài Loan chiếm đảo lớn nhất, Taiping Dao(Đảo Thái Bình hay Ba Bình), cho quân đồn trú tại đảo này khoảng 800 binh sĩ và đã xây dựng một bến cảng và một đường sân bay. Trung Quốc đã đóng quân trên tám hay chín đảo.

 

Hạm đội của Singapore và Ấn Độ diễn tập trên biển Đông

Các tranh chấp vùng biển Nam Trung Hoa có quan hệ mật thiết về địa chính trị vươn xa khỏi quyền làm chủ mấy đảo bé xíu hay bất kỳ mỏ dầu nào ẩn chứa  trong đó. Thực vậy, kết quả của các tranh chấp và tiến trình đưa đến kết quả này có thể xem như là cách biểu thị các xu hướng quan hệ trong khu vực ở kỷ nguyên hậu Chiến tranh lạnh. Chúng có thể bắt đầu trả lời các câu hỏi sau: Chủ nghĩa đa phương có thể thực sự hiệu quả ? Ý đồ của Trung Quốc đối với khu vực ra sao ? Liệu sẽ là một sự hợp tác, láng giềng hữu hảo như họ tự đề ra (như khi gia nhập khu vực được tiếp đón có lẽ quá nồng hậu), hoặc là họ sẽ tìm cách thống trị và tự viết ra những luật lệ theo ý mình trong ứng xử quốc tế ? Nếu Trung Quốc thật sự tìm cách thống trị khu vực, Nhật và Mỹ sẽ phản ứng ra sao – nếu như chỉ đứng ở hậu trường – khi thấy ảnh hưởng khu vực của mình bị lụi tàn khi về tay Trung Quốc ? Trung Quốc có thể hay cần phải được xoa dịu hay khống chế khi lọt vào tay TQ ? ASEAN có thể duy trì đoàn kết khi đối mặt với một Trung Quốc quyết đoán và lôi kéo ? Việt Nam gia nhập ASEAN sẽ ảnh hưởng ra sao đến cán cân chính trị khu vực và mối quan hệ với Trung Quốc ? Việt Nam và ASEAN sẽ thành lập ngấm ngầm hay công khai một mặt trận chống lại Trung Quốc trên vấn đề hệ trọng như là an ninh ? Và liệu Indonesia sẽ nổi lên như là một phó lãnh đạo khu vực qua việc môi giới thành công một giải pháp cho mớ rối rắm biển Nam Trung Hoa ?

Tháng 2-1995, Philippines cáo buộc Trung Quốc vi phạm luật quốc tế khi cho tàu  tàu vũ trang trú đóng và xây dựng công trình kiến trúc kiên cố trên rặng đá ngầm Mischief (Meijijiao/Panganiban) của họ. Cáo buộc qua lại chẳng bao lâu leo thang thành tranh chấp quốc tế, càng gây thêm lo lắng về ý đồ của Trung Quốc. Sự kiện rặng đá ngầm Mischief đánh dấu khởi đầu một giai đoạn mới trong tranh chấp trên biển Nam Trung Hoa. Lần đầu tiên, Trung Quốc chủ động tự mình khẳng định trước một nước có đòi hỏi( về chủ quyền) khác ngoài Việt Nam, phá tan  huyền thoại là Trung Quốc chỉ hành

Yêu sách về lãnh hải của Trung Quốc(đường lưỡi bò màu xanh)

động xông xáo đối với Việt Nam và để yên các nước tranh chấp khác. Cách tiếp cận của Trung Quốc dường như là ‘thương thuyết song phương theo điều kiện của tao hoặc sẽ đối mặt với hậu quả’. Thêm vào đó, cuộc đối thoại do Indonesia bảo trợ – một cuộc hội họp định kỳ gồm các nước vùng biển Nam Trung Hoa nhằm thăm dò các giải pháp cho tranh chấp – hình như bị chệch hướng. Vụ việc rặng đá ngầm Mischief này có thể làm xói mòn thêm lòng tin vào hiệu quả của tiến trình thương thảo.

ASEAN đã tìm  được tiếng nói chung trong vấn đề này, ‘bày tỏ  quan tâm sâu sắc trên các diễn biến gần đây có ảnh hưởng đến hòa bình và ổn định trong vùng biển Nam Trung Hoa’, thúc đẩy nâng cao tin cậy và biện pháp xây dựng lòng tin, triệu tập đại sứ Trung Quốc tại các nước liên quan đến để nhấn mạnh mối quan ngại của mình và đưa ra một mặt trận đoàn kết tại kỳ họp tư vấn đầu tiên  ASEAN – Trung Quốc(5). Mỹ, Nhật, Úc, New Zealand và ngay cả Cộng đồng Châu Âu (EU) cũng bày tỏ sự quan tâm(6). Đặc biệt, chính sách của Mỹ trong vấn đề này dường như đã có thay đổi từ ‘thụ động’ sang ‘trung lập chủ động'(7). Vấn đề tranh chấp biển Nam Trung Hoa đã được nêu ra tại Brunei vào tháng 7-1995 tại Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF) – một nhóm rời rạc gồm 19 nước trong vùng biển Thái Bình Dương (bao gồm Trung Quốc, Nhật và Mỹ) cùng EU cũng đã được thành lập nhằm thảo luận và nâng cao an ninh khu vực trong vùng Đông Á(8).

Trung Quốc là  thế lực thống trị khu vực và đưa ra yêu sách bao quát nhất vùng biển Nam Trung Hoa. Mọi giải pháp cho tranh chấp tại vùng biển này do đó phải thỏa mãn quyền lợi của Trung Quốc. Tuy nhiên, chính sách và các yêu sách khu vực của Trung Quốc là nhập nhằng và có khoảng cách lớn giữa lời nói và hành động. Thực vậy, nhận chân các ý đồ và quan tâm của Trung Quốc trong vùng biển Nam Trung Hoa là khó khăn và dễ gây tranh cải. Bài viết này cung cấp bối cảnh chính trị và dự đoán các vấn đề thuộc biển Nam Trung Hoa bằng cách lấy Trung Quốc làm điểm nhấn. Đặc biệt là mô tả các đòi hỏi cùng chiến lược của các quốc gia có yêu sách cũng như sự quan tâm nảy sinh từ tiềm năng mỏ dầu mỏ khám phá ở vùng biển Nam Trung Hoa. Sau đó là phân tích về các ý đồ của Trung Quốc trong khu vực, tập trung vào sự tương phản giữa lời nói hoa mỹ và hành động thực tế của Trung Quốc. Bài này cũng tổng hợp lại các mối quan hệ của Trung Quốc trong vấn đề trên với Mỹ trong tư cách là bên thứ ba có liên quan, ASEAN, các nước yêu sách khác, đặc biệt là Việt Nam và Đài Loan.

USS Peleliu (LHA 5) thuộc hạm đội 7 trên biển Đông

I- CÁC YÊU SÁCH VÀ  NHỮNG HOẠT ĐỘNG

Trung Quốc, Đài Loan và Việt Nam ai nấy đều có yêu sách toàn bộ các đảo, các rặng đá ngầm và các mỏm đá trong vùng quần đảo TS(Spratly), chính xác là những gì nằm trên mực nước biển, cho rằng từ lâu đã thuộc về lãnh thổ của mình (xem Bản đồ 1 và 2). Philippines đòi hỏi theo tính chất như trên, nhưng giới hạn trong vùng họ gọi là Kalayaan (Freedomland). Trung Quốc, Đài Loan và Philippines bên nào cũng đều yêu sách mọi phần nằm dưới mặt nước trong vùng đảo TS(Spratly)(1). Trung Quốc và Đài Loan dựa trên sự khám phá và chiếm dụng trong lịch sử để đưa ra yêu sách gần như toàn bộ vùng biển Nam Trung Hoa(2). Philippines thì biện hộ cho yêu sách của mình đối với khu vực được xem là sống còn đối với an ninh quốc gia và nền kinh tế, rằng lãnh thổ trên chưa có nước nào sở hữu hợp pháp và các yêu sách của các nước khác đều đã bỏ dỡ(3). Lịch sử là nhân tố không thể bỏ qua, và sự chiếm đóng cùng kiểm soát có hiệu lực cũng là những chứng cứ, từ đó xác lập nên chủ quyền ở đây. Malaysia yêu sách thẳng thừng 7 hòn đảo phía nam TS ( Spratlys) vì nó nằm trong biên giới thềm lục địa nước họ. Brunei thì đòi hỏi Khu vực Đặc quyền Kinh tế (EEZ) – một khoảng rộng 200 hải lý qui định bởi Qui ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) – có hình dạng như một hành lang kéo dài chính xác đến phía nam quần đảo TS( Spratlys) và vượt khỏi 200 hải lý từ bờ biển nước họ, bao gồm cả bờ đá Rifleman và một góc nhỏ vùng Kalayaan(4). (UNCLOS đã thông qua vào năm 1982, có hiệu lực vào 16-11-1994 và đã được Indonesia, Philippines và hiện nay là Việt Nam và Singapore phê chuẩn.)

Các nước có  yêu sách đã cố gắng để bênh vực cho đòi hỏi của mình bằng nhiều cách,  bao gồm cả biện pháp sử dụng sức mạnh quân sự; ‘diệu võ giương oai’; chiếm đóng và gia cố các đảo nhỏ; xây dựng trên các vùng đá ngầm; lập nên các công trình và cột mốc trên các đảo; thành lập các trạm nghiên cứu khoa học giả như được ủy nhiệm bởi các tổ chức quốc tế; ban hành các đạo luật; sát nhập khu vực vào các tỉnh gần kề; ấn hành các bản đồ thể hiện các yêu sách; đưa ra các tài liệu lịch sử chứng minh cho yêu sách; cho phép các du khách và nhà báo thăm viếng đảo ‘của họ’; và cấp quyền nhượng địa cho các công ty dầu mỏ ở các vùng tranh chấp. Kịch tính nhất của những hành động này dẫn đến vụ đụng độ nhỏ hải quân giữa Trung Quốc và Việt Nam năm 1988, nhưng cả hai nước vẫn tiếp tục đổ bộ binh lính và cắm cột mốc lên các đảo chiếm đóng. Chỉ ít kịch tính hơn một chút là việc Malaysia bắt giữ ngư dân Philippines trong khu vực có tranh chấp chồng chéo về yêu sách của Malaysia và Philippines, và Philippines bắt giữ ngư dân Trung Quốc đang hoạt động gần các đảo mà họ chiếm đóng(5).

Dưới đây là  tổng kết những ví dụ trần tục hơn các cố  gắng bênh vực yêu sách chủ quyền trong khu vực. Năm 1991, Malaysia loan báo rằng đảo trong rặng đá ngầm Swallow (Terumbu Layang Layang) bị họ chiếm giữ trước đây được biến thành một khu nghỉ dưỡng du lịch có một nhà nghỉ và một đường băng phục vụ máy bay quân sự và dân sự loại nhỏ(6). Họ cũng đang cố gắng mở mang hòn đảo thành một căn cứ cho hoạt động đánh bắt hải sản trong khu vực yêu sách. UNCLOS qui định rằng mỏm đá ngoài khơi nào không thích hợp được cho con người cư ngụ hoặc tự nó không hỗ trợ được cho đời sống kinh tế thì không thể phát huy được đòi hỏi về EEZ hay thềm lục địa. Xem chừng ý đồ của Malaysia là nhằm chứng minh rặng đá ngầm Swallow bản thân nó đã có một đời sống kinh tế . Tương tự, Philippines đã bày tỏ ý định của mình về phát triển du lịch trên đảo Pagasa. Việt Nam, cũng thế, đã khánh thành một cảng đánh cá trên một đảo trong khu vực và trong tháng 12-1992, đúng lúc Thủ tướng Trung Quốc Lý Bằng (Li Peng) sang thăm Hà Nội, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã mời các nhà báo nước ngoài đi thăm viếng các đảo mình đã chiếm ngụ(7).

Chiến dịch tuần tra trên biển Đông

Trung Quốc đưa ra lời mời thực hiện các cuộc phối hợp khảo sát khoa học với các nước có yêu sách( về chủ quyền) khác bằng tàu của Trung Quốc ở vùng biển yêu sách của các nước này, có lẽ đây là sáng kiến nhằm biểu lộ sự mặc nhận về chủ quyền (của  TQ) . Trung Quốc cũng thành lập một trạm quan trắc thời tiết trên một trong những đảo họ chiếm đóng, cho rằng làm thế theo sự bảo trợ của Tổ chức Khí tượng Thế giới, nhưng tổ chức này đã chối bỏ việc cấp phép cho lắp đặt(8). Việt Nam cũng phát triển một trạm nghiên cứu trong khu vực, và tức thì bị Trung Quốc phản đối(9). Căn cứ hải quân của Trung Quốc trên rặng đá ngầm Fiery Cross (Yongshu Jiao) có cả một trạm quan sát hải dương học hiện đại có thể nhận và truyền tín hiệu vệ tinh, cung cấp dữ liệu khí tượng quan trọng cho phi cơ và tàu thủy đi ngang qua. Rặng đá ngầm này cũng có một bãi đáp trực thăng và bến tàu dài 300 mét đáp ứng được sự ra vào cho tàu có trọng tải 4.000 tấn. Các kết nối trực tiếp bưu chính viễn thông cũng đã được thành lập giữa trạm nhân sự trên rặng đá ngầm và lục địa(10).

Đài Loan, Trung Quốc, Việt Nam và Philippines nước nào cũng sát nhập toàn bộ vùng quần đảo TS (Spratly) vào hệ thống quản lý hành chánh cấp tỉnh của mình. Tháng 7-1991, Đài Loan tái khẳng định yêu sách chủ quyền của mình trên quần đảo TS (Spratly)(11). Hai đạo luật hiện đang được Đài Loan cân nhắc – luật về lãnh hải và vùng tiếp giáp, luật về EEZ và thềm lục địa – có thể quan hệ mật thiết đến yêu sách của họ, mặc dù trong văn bản đó chẳng đề cập đặc biệt gì đến đến quần đảo TS (Pratlys). Trung Quốc đã chấp nhận Luật về Lãnh hải và Vùng tiếp giáp vào tháng 2-1994 vì cho rằng căn cứ vào đó thì quần đảo TS( Spratlys) phải được giao lại cho Trung Quốc(12).

Cấp phép nhượng quyền về dầu mỏ và khí đốt thiên nhiên trong vùng biển tranh chấp là thông thường nhưng cũng là một phương sách khiêu khích mà các quốc gia yêu sách dùng để chứng tỏ quyền tài phán của mình. Tuy nhiên, hợp đồng có điều kiện là người được nhượng quyền đang trực tiếp thực hiện phải ngưng lại chờ giải quyết khi có va chạm tranh chấp chủ quyền. Tuy thế, trong thập kỷ 70 và đầu 80, AMOCO, Selen và Công ty Phát triển Dầu khí Philippines đã khoan nhiều giếng trên bờ đá Reed qua sự cấp phép nhượng quyền của Philippines. Gần đây hơn, Công ty Dầu khí Kirkland đã nhận được hợp đồng thăm dò và khảo sát địa vật lý từ chính phủ Philippines đến khoảng 15.500 km2, gồm hầu hết bờ đá Reed, và công tác khảo sát địa chấn đã hoàn thành vào tháng 6-1995(13). Trung Quốc nghe nói cũng đã khoan được một giếng, là Nanyang 1, trên rặng đá ngầm Fiery Cross(14). Một hợp đồng nhượng quyền do Trung Quốc cấp cho Crestone Energy Corporation, một công ty Mỹ, có lịch trình công tác rõ ràng các công đoạn như khảo sát bằng địa chấn mà việc này là đòi hỏi phải có cơ sở vật chất chiếm đóng trên khu vực nhượng quyền, và công ty trên đã công bố kế hoạch khoan giếng. Không có chiến dịch phản đối nào về sự nhượng quyền cho Crestone, đặc biệt khi khoan lấy dầu, chứng minh sự kiểm soát hiệu quả thực tế trong khu vực, đây chính là một tiêu chuẩn xác nhận quyền sở hữu (sự ngấm ngầm chấp nhận của các nước yêu sách còn lại là một vấn đề khác). Có thể hiểu được tại sao Việt Nam đã phản đối  hành động của Trung Quốc và toan tính khoan giếng trước một bước trước tiên trong lô nói trên.

Không rõ trữ  lượng dầu khí ở quần đảoTS(Spratlys) lớn cỡ nào (ước lượng khoảng 1 đến 17,7 tỷ tấn) nhưng nó cũng là yếu tố chính bao hàm trong các yêu sách chủ quyền trong khu vực(15). Nhiều nhà quan sát cảnh báo rằng với các dữ liệu hạn chế về địa lý và địa hóa học trong khu vực quần đảo TS (Spratlys) cộng với mực nước sâu nói chung cho thấy riêng ở quần đảo nầy( Spratlys) chỉ có trữ lượng khiêm tốn về dầu mỏ và khí đốt có thể khai thác thương mại . Theo quan điểm này, khả năng tồn tại trữ lượng khí thiên nhiên là nhiều hơn, nhưng phải khám phá được mỏ rất lớn mới khai thác thương mại hiệu quả. Thăm dò ở khu vực tư nhân trong vùng quần đảo TS (Spratlys) do đó chắc sẽ khiêm nhường, đồng bộ với mức hấp dẫn thương mại hãn hữu tương tự,  ngay cả khi áp dụng cho một hợp đồng liên kết thăm dò và khai thác.

Tuy nhiên, các công ty dầu mỏ thường hạ thấp kích cỡ tiềm năng trữ lượng nhằm hy vọng có những điều khoản có lợi hơn trong hợp đồng, trong khi chính phủ và những nhà đầu cơ có khuynh hướng nâng cao tiềm năng trữ lượng. Kiểu giả vờ này có thể phần nào giải thích sự khác biệt trong ước tính của các nhà địa chất Trung Quốc và Philippines, là những người lạc quan, khác với một số công ty dầu mỏ cỡ bự, thường là tương đối bi quan(16).

Các viện khoa học ngoài khu vực như Đài Quan sát Địa chất Lamont Doherty và Viện Bản đồ Địa chất Đức quốc thì cũng lạc quan về tiềm năng có các trữ lượng lớn ở quần đảo TS (Spratlys). Một cuộc khảo sát năm 1995 do Viện Khảo sát Địa chất Ngoài Lãnh thổ của Nga thực hiện đã ước lượng khu vực đảo TS (Spratlys) có thể chứa đến 6 tỷ thùng dầu mỏ tương đương, trong đó có thể 70% là khí đốt thiên nhiên. Đây là một ước lượng lạc quan về trữ lượng và thực tế khai thác được sẽ ít hơn nhiều(17). Tuy nhiên, nơi đây có khoảng 9 km trầm tích thuộc Kỷ đệ tam và Kỷ phấn trắng* dưới bờ đá Reed và phần địa tầng phô bày cấu trúc đá rỗng, đặc biệt là các phay lồi. Hơn nữa, một vài giếng đã khoan xác nhận sự tồn tại của nguồn chứa khá tốt và các lớp đá chứa dầu. Tuy vậy, dường như những báo cáo về các trữ lượng dầu khí lớn lao đều dựa trên nguồn tin chưa đầy đủ và khu vực quần đảo TS (Spratlys) hiện tại vẫn chưa là ưu tiên một của các công ty dầu mỏ chủ chốt. Rõ ràng là không khôn ngoan khi quảng bá những ước tính về tiềm năng trữ lượng dầu khí mà chỉ dựa trên một số tin tức hiếm hoi thu nhặt được của người khác.

Ý kiến cho rằng vùng nước biển quanh quần đảo TS (Spratlys) là quá sâu để khoan giếng có hiệu quả kinh tế là diều đang nghi ngờ. Ước độ 10,350km2 đáy biển dưới mặt nước vùng bờ đá Reed và các bờ đá lân cận có độ sâu chưa đến 200 mét(18). Vẫn còn nhiều vùng đáy biển ở quần đảo TS(Spratlys) nằm trong mức 1.000 mét đường đẳng áp. Thêm vào đó, một số đảo san hô vòng ở biển Nam Trung Hoa có lẽ sẽ được dùng làm nền cho bệ khoan. Nhượng quyền đã cấp phát trong vùng nước sâu phía trong và liền kề khu vực Spratlys: cấp cho Kirkland và Alcorn (do Philippines, chỉ mới trên bàn giấy); cấp cho Crestone (do Trung Quốc); và cấp cho Sabah Shell (do Malaysia)(19). Tháng 12-1994, công ty Occidental đã khoan và tìm ra dầu dưới mức khai thác thương mại ở khoảng 1.280 mét sâu khỏi phía tây bắc Palawan, một kỷ lục ở châu Á(20). (Kỷ lục thế giới hiện tại về khai thác ở nước sâu là 725 mét do công ty Petrobras ngoài khơi Brazil.)(21) Trong vòng hai năm, Petrobras mong mỏi được khai thác dầu đều đặn từ độ sâu khoảng 1.000 mét trong vùng trũng Campos. Hãng dầu Shell đã tiến hành khoan thăm dò ở 2.300 mét nước sâu trong vùng thung lũng sông Missisippi, và hy vọng thu lợi được từ độ sâu như thế trong một tương lai gần.

Tàu chiến TQ bắt bớ ngư dân VN trên vùng biển Hoàng Sa

Rõ ràng, kích cỡ của mỏ phải đủ lớn để cân  đối chi phí khoan giếng dưới nước sâu, có lẽ 100 – 150 triệu thùng, với chi phí hút lên khoảng 10 đô la mỗi thùng. Đây là số phỏng chừng chi phí ban đầu của giếng số 1 West Linacapan khoan trúng mạch dầu nằm trong phạm vi địa chất của lô khai thác ở đảo Spratlys, mặc dù đang dấy lên nhiều nghi ngờ về khả năng khai thác của nó(22). Khi giá dầu gia tăng, khả năng khai thác sẽ hiện thực hơn.

Trong bất kỳ  trường hợp nào, các tranh chấp ở vùng biển Nam Trung Hoa không chỉ chủ yếu vì dầu khí  nhưng vì tầm quan trọng chiến lược của các hòn  đảo và thêm vào đó là yêu sách chủ quyền. Trong hoàn cảnh này, liên kết quản lý có thể là biện pháp xây đắp lòng tin hiệu quả để có thể mang lại phi quân sự hóa cho khu vực. Hơn nữa, các đương sự yêu sách là quốc gia, không phải các công ty dầu mỏ; họ hành động vì quyền lợi lâu dài, đặc biệt khi có dính líu đến lãnh thổ. Do vậy không chắc là các bên yêu sách sẽ nản lòng trong các tranh chấp của mình đơn giản chỉ vì tiềm năng dầu mỏ trong vùng có lẽ không nhiều.

Cắm mốc biên giới Trung-Việt trên đất liền

Trung Quốc: Câu hỏi về ý đồ

Trung Quốc là  nhân vật chủ chốt trong vùng biển Nam Trung Hoa do ưu  điểm về chiều kích rộng lớn, đang phát triển về  chính trị, kinh tế và sức mạnh quân sự, cũng như yêu sách càn quét về lãnh thổ với những hành động hung hăng như đã nêu. Càng khẳng định thêm, chiến lược của Trung Quốc dường như là đồng thời tăng cường khả năng hải quân; nâng cao và mở rộng sự hiện diện thực thể của nó, từ đó hợp pháp hóa sự chiếm đóng; mời gọi các công ty khai thác dầu khí phương Tây thăm dò trong các vùng tranh chấp; nhấn mạnh vào và hướng đến ngoại giao song phương với các nước có yêu sách khác(23). Dường như Trung Quốc phát triển chính sách ‘ba không’ để đối phó với vấn đề quần đảo TS (Spratlys); không định rõ các yêu sách; không thương thảo đa  phương; và không ‘quốc tế hóa vấn đề’, bao gồm không dính líu đến các thế lực bên ngoài.

Mặc dù Trung Quốc có mời gọi liên kết phát triển khu vực trên với các nước có yêu sách( về chủ quyền) song các điều kiện đưa ra có lẽ không thể chấp nhận được với các nước trên. Qua việc liên kết phát triển, Trung Quốc dường như có ý định khai thác toàn bộ vùng biển Nam Trung Hoa, bao gồm dầu mỏ và khí đốt thiên nhiên trên thềm lục địa của các nước khác – và chỉ nhờ vậy chủ quyền của Trung Quốc trên toàn khu vực biển đương nhiem được nhìn nhận. Thực vậy, ý niệm liên kết phát triển của Trung Quốc có vẻ

như là một sự tham gia của các bên nước ngoài vào việc phát triển tài nguyên của Trung Quốc – đối lập với cách thức góp chung vào các quyền lợi tài nguyên trong vùng tranh chấp, vốn là một kiểu mang tính qui ước hơn trong thể thức liên kết phát triển(25). Mặc dù Trung Quốc chưa tuyên bố rõ ràng về điều này do ngại sự  liên minh của các nước yêu sách khác, thái độ lập lờ tại nhiều cuộc thảo luận khác nhau do Indonesia môi giới, sự không nhất quán giữa lời nói và hành động, cách thức tương tự diễn ra trên đảo Senkaku (Taio-yu-tai)(26). Liên quan đến việc quốc tế hóa vấn đề tranh chấpTrung quốc chống lại  mọi sáng kiến tổ chức đa quốc gia nhằm giải quyết các tranh chấp trong khu vực – có vẻ là do  phương thức nầy có thể dẫn đến việc công nhận Đài Loan, và vì không thể tách rời vấn đề chủ quyền vốn chưa giải quyết được. Thay vào đó, Trung Quốc ưa chuộng  các cuộc thương thảo  song phương hơn và – chỉ khi cảm thấy cần – liên kết phát triển song phương(27).

Tàu chiến của Hải quân VN bị đánh chìm 1988

Thảo luận đa phương có thể khiến đi lệch hướng chiến lược của Trung Quốc trong việc trì hoãn dàn xếp vấn đề chủ quyền với Đài Loan và xoa dịu căng thẳng thông qua các quan hệ song phương đã cải thiện với các nước yêu sách khác. Hơn nữa, Trung Quốc đang cố gắng tránh né đối mặt với một tập hợp ASEAN trên bàn tranh chấp – sẽ nổi lên từ các thương thảo đa phương – và không muốn đứng vào vị thế ngoại giao chính thức để bị giới hạn tầm vận dụng của mình(28). Trung Quốc cũng chống lại sự chính thức hóa và thể chế hóa các cuộc thảo luận do Indonesia bảo trợ – hình như là do có sự tham gia của Đài Loan. Tình thế này đưa ra một câu hỏi rất cơ bản: Liệu có phải Trung Quốc đang tìm cách viết ra những luật lệ riêng của mình về trật tự quốc tế hơn là chấp nhận những quy tắc đang tồn tại ?(29)

Thỏa mãn những mối quan tâm hợp lý của Trung Quốc là vấn nạn cho bất kỳ một giải pháp toàn diện nào. Tuy nhiên, vị  trí chính xác của Trung Quốc trong những vấn đề này là không rõ ràng. Ví dụ như qua các hành động của mình, Trung Quốc dường như đòi hỏi chủ quyền toàn bộ vùng biển Nam Trung Hoa, nhưng lại từ chối  khẳng định hay bào chữa cho yêu sách đó, ngoài việc ấn hành địa đồ cho thấy một ‘đường yêu sách theo lịch sử’ nhô ra bao trùm gần hết vùng biển Nam Trung Hoa (xem Bản đồ 1). Không rõ là Trung Quốc yêu sách chủ quyền toàn bộ khu vực, trên lẫn dưới mặt nước biển, trong vạch yêu sách lịch sử đó hoặc chỉ các hòn đảo nằm trong vạch. Và nếu họ chỉ yêu sách các đảo thôi, thì có kể luôn EEZ và thềm lục địa của các đảo đó hay không, và có cho rằng những khu vực đó phải vươn ra dến phạm vi yêu sách của các nước ở lục địa khác ? Trung Quốc cũng nhận thức rằng một khi họ chỉ rõ các yêu sách của mình, họ sẽ phải bảo vệ nó trong khung cảnh luật quốc tế hiện hành, và một yêu sách lấy gần hết vùng biển Nam Trung Hoa theo yếu tố lịch sử thì sẽ rất khó mà chống đỡ. Có lẽ vì vậy mà Trung Quốc đề nghị tạm thời xếp sang bên vấn đề trên để phục vụ cho việc hợp tác phát triển. Trung Quốc thừa nhận các nước khác cũng đòi hỏi chủ quyền nhiều phần trong khu vực, nên tiếp tục đề nghị liên kết phát triển. Nhưng tín hiệu đưa ra lại lẫn lộn, không rõ là liên kết phát triển chỉ ở vùng quần đảo TS( Spratly) hay toàn bộ vùng biển Nam Trung Hoa, bao gồm cả khu vực mà các nước tranh chấp khác cho rằng rõ ràng là nằm trong thềm lục địa của họ. Hơn nữa, mặc dù đề nghị liên kết phát triển của Trung Quốc thoạt đầu có ý nghĩa đa phương liên kết phát triển, nhưng lúc nào cũng nhấn mạnh vào thương thảo song phương trên các vấn đề này, và dường như đang chơi trò lôi kéo với vài nước có yêu sách trong ASEAN tách ra chống lại Việt Nam. Như thế, giữa lời nói và việc làm của Trung Quốc đã có một khoảng cách mở rộng.

Dàn khoan trên biển  Đông

Mỉa mai thay, Thủ tướng Trung Quốc Lý Bằng (Li Peng) trong tuyên bố ngày 13 tháng 8 năm 1990 tại Singapore rằng Trung Quốc đã chuẩn bị xếp lại những vấn đề về chủ quyền và sẽ liên kết phát triển vùng quần đảo TS (Spratly), muốn gác lại vấn đề gây trở ngại chính và dựng lên một khung cảnh mới để giải quyết những vấn đề trong vùng(30). Tuyên bố trên theo sau sự kiện va chạm khốc liệt tháng 3-1988 giữa Trung Quốc và Việt Nam tại rặng đá ngầm Johnson – khi đó ba tàu Việt Nam bị đắm và 77 thủy thủ Việt Nam bị giết hoặc mất tích – và phản ánh một sự trở mặt rất quan trọng(31).

Máy bay lên thẳng Ka-28 chống tàu ngầm của Nga bán cho TQ

Vào năm 1991 khi hội nghị do Indonesia bảo trợ nhóm họp tại Bandung, mọi bên yêu sách đều nhất trí giải quyết các khác biệt một cách hòa bình và tránh các hành động đơn phương có thể hủy hoại tiến trình. Nhưng những hành động tiếp theo sau của Trung Quốc lại phá hoại thiện chí: Trung Quốc tăng cường sức mạnh hải quân và khả năng không quân trong vùng biển Nam Trung Hoa; sở hữu kỹ thuật tiếp liệu trên không; và ngay cả việc dự tính mua một hàng không mẫu hạm từ Ukraine. Trung Quốc cũng thông qua Luật về Lãnh hải và các Miền tiếp giáp nhằm chính thức hóa và hợp nhất với yêu sách về chủ quyền của mình trên quần đảo HS (Paracel) và TS(Spratly). Sau đó Trung Quốc cấp nhượng quyền khai thác về dầu mỏ cho công ty Crestone, tức giếng dầu Wan’an Bei, trên vùng Việt Nam đòi hỏi chủ quyền ở thềm lục địa thuộc vùng bờ đá Vanguard, và cam kết sẽ dùng vũ lực bảo vệ cho công ty khai thác (xem Bản đồ 1). Ngay cả trong lúc hội nghị do Indonesia bảo trợ tiến hành lần thứ 3 tại Jogjakarta tháng 7-1992 để tìm giải pháp cho vấn đề, Trung Quốc gởi thêm quân bổ sung đến 6 hòn đảo đã chiếm đóng và đổ bộ binh sĩ để dựng cột mốc chủ quyền trên rặng đá ngầm Da Lac mà Việt Nam đang đòi hỏi, nằm gần nhất khu vực nhượng quyền cho Crestone.

Các vùng có dầu khí ngoài khơi biển Đông

Khi đối mặt với sự cảnh báo và chỉ trích  tăng cao từ  những nước yêu sách khác trong mùa xuân và hè  1992, Trung Quốc lập tức lại đưa ra cơ hội thương thảo về tranh chấp ở TS(Spratly) và lập lại lời cam kết không sử dụng vũ lực để bảo vệ các yêu sách của mình. Những cố gắng này là quá ít và quá trễ; nhằm phản ứng lại hành động của Trung Quốc, hội nghị Ngoại trưởng ASEAN tại Manila đã đưa ra một tuyên bố chính thức chưa từng có trước đây về an ninh khu vực, gọi là Tuyên bố của ASEAN về biển Nam Trung Hoa. Trong đó thúc dục mọi nước có yêu sách phải dàn xếp tranh chấp một cách hòa bình và kêu gọi sự hợp tác trong khu vực nhằm tiến đến an toàn giao thông liên lạc, ngăn ngừa ô nhiễm, tìm kiếm cứu nạn, chống hải tặc và buôn lậu ma túy. Việt Nam lập tức lên tiếng ủng hộ tuyên bố nhưng phản ứng ban đầu của Trung Quốc là không rõ ràng. Trong tháng 10-1992, lập trường của ASEAN được đưa vào trong văn kiện cuối cùng của Ủy ban  chính trị của Phong trào Không Liên kết, mặc cho Trung Quốc phản đối sự bao gồm này. Trung Quốc bèn tái triển khai ba tàu ngầm qui ước kiểu Romeo từ Hạm đội biển Bắc về tuần tra trong khu vực tranh chấp tại biển Nam Trung Hoa. Động thái này làm dâng cao nghi ngờ Trung Quốc chỉ đơn giản sử dụng tiến trình do Indonesia bảo trợ để câu giờ trong lúc cũng cố và tăng cường vị thế của mình. Mặc dù sau đó Trung Quốc lại đưa ra đề nghị xếp qua bên vấn đề chủ quyền và tiến hành việc liên kết phát triển – đặc biệt là với Malaysia và Philippines – nhưng những đề nghị này chẳng còn làm ai quan tâm đến. Phần nào cũng vì Trung Quốc tiếp tục từ chối giảm nhẹ các đòi hỏi quá đáng của mình trong khu vực mà chẳng thèm nhìn nhận tính hợp pháp trong yêu sách các nước khác.

Nhiều giả thuyết  được đưa ra để giải thích tại sao Trung Quốc lại hành động như thế. Làm phức tạp vấn đề là  cách giải thích đúng nhất các hành động của Trung Quốc theo từng động năng khác nhau và thời điểm khác nhau. Nguyên tắc của Trung Quốc đối với bất kỳ tiến trình an ninh đa phương nào là mọi quốc gia phải được đối xử bình đẵng trên cơ sở năm nguyên tắc chung sống hòa bình: không quốc gia nào xen vào công việc nội bộ của các quốc gia khác; giải giới và kiểm soát vũ khí phải được tiến hành theo cách công bằng và hợp lý; phải nổ lực chấm dứt chạy đua vũ trang và ngăn ngừa phát triển vũ khí hạt nhân; không nước nào mưu đồ bá chủ hoặc ảnh hưởng toàn cầu, hoặc tổ chức hay liên kết quân sự thành một khối trực tiếp uy hiếp những nước khác; và tranh chấp lãnh thổ, tranh chấp biên giới cũng như các loại khác giữa các quốc gia trong khu vực phải được dàn xếp một cách hòa bình không dùng đến vũ lực(34).

Mặc dù Trung Quốc có thể xem đối thoại đa phương trong khu vực là không thể tránh né được, nhưng lại e dè, sợ rằng lịch trình và diễn tiến này có thể bị Mỹ hay các nước khác giật dây. Trung Quốc cũng sợ rằng Đài Loan có thể dùng cuộc đối thoại về TS(Spratly) để tiến lên mục tiêu nhìn nhận về mặt quốc tế cho mình. Thêm vào đó, Trung Quốc nghĩ rằng các vấn đề an ninh, như việc đảo Spratlys, là vấn đề song phương cần được xử trí bởi các nước liên quan vì vậy cho rằng dùng phương thức đa phương là không thích hợp cho nhiệm vụ đó, cho nên Trung Quốc phản đối đưa vấn đề đảo Spratly trong chương trình nghị sự của thảo luận đa phương về an ninh quốc tế trong khu vực. Từ đó Trung Quốc sẽ đợi cho các nước khác đi bước khởi đầu trong lúc vẫn nhấn mạnh quan điểm cho rằng hầu hết các vấn đề về an ninh trong khu vực là không thể điều chỉnh được bằng giải pháp đa phương.

 

 Tuyến đường chở dầu trên biển kéo dài từ Vịnh Ba Tư  đến NB

Trao cho Trung Quốc lợi thế của sự mập mờ, và nghiên cứu các nguyên tắc cùng sự quan tâm nêu trên, Bắc Kinh có thể chỉ đơn giản phản ứng với các động thái từ các nước tranh chấp khác, hoặc tìm kiếm một chiến lược có lợi thế hơn trước khi đồng ý thương thảo. Trong khung cảnh trên, vài nhà phân tích tin rằng đề nghị liên kết phát triển đưa ra bởi Lý Bằng(Li Peng) và lập lại bởi lãnh đạo cấp cao đảng Cộng sản Dương Thượng Côn (Yang Shankun) là hấp tấp vì các bộ ngành liên quan, nhất là Quân đội Giải phóng Nhân dân (PLA), chưa được tham khảo ý kiến(35).

(Còn tiếp)  

 Copyright © 2009 by Bauxite Việt Nam International http://bauvinal.info.free.fr  http://bauxitevietnam.free.fr

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s