Trung quốc và các tranh chấp vùng biển Nam Trung Hoa – China and the South China Sea Disputes(2)

Mark J. Valencia – Lê  Hoàng-  Bauvinal chuyển ngữ
The International Institute for Strategic Studies
Oxford University Press 1995 

Tiếp theo

Từ sự khủng hoảng tại quảng trường Thiên An Môn năm 1989, PLA đã trở  nên có ảnh hưởng hơn. Gia tăng ngân sách cho PLA và  cho phép nó biểu dương sức mạnh trong vùng biển Nam Trung Hoa là hai cách nhằm vỗ về PLA và gặt hái sự hỗ trợ của nó. Sau sự băng hà của Đặng Tiểu Bình, các tân lãnh đạo của Trung Quốc có thể phải chọn cách khó khăn hơn để chiếm được sự hỗ trợ của PLA. Hiện sự bấp bênh đang bao trùm giới lãnh đạo nối ngôi, bất cứ phần lãnh thổ nào bị mất về tay đối thủ sẽ là một sự truất phế; không thể trông mong giới lãnh đạo hiện thời gạt bỏ trách nhiệm lịch sử mà duy trì được chủ quyền trên vùng lãnh thổ mà Trung Quốc đang yêu sách. Đó là việc TS( Spratly) là một phần của đất mẹ từ thời cổ xưa đã chôn sâu trong tiềm thức dân tộc của người Trung Quốc. Sau khi chịu cảnh mất lãnh thổ về tay các thế lực Tây phương ở thế kỷ qua, nếu như bây giờ lại phải mất thêm lãnh thổ do các nước trong khu vực, thì niềm tự hào quốc gia cùng tính hợp pháp chân chính của chính phủ sẽ bị tổn hại nghiêm trọng.

Có ý kiến cho rằng động cơ chính của Trung Quốc là dầu mỏ. Đồng thời với sự phát triển ngoạn mục về kinh tế của Trung Quốc là bước nhảy vọt tương ứng trong tiêu thụ dầu mỏ và một sự lệ thuộc và nguồn dầu nhập khẩu, tính đến hiện nay là chiếm 17% lượng tiêu thụ năng lượng tại Trung Quốc(36). Hiện đại hóa làm gia tăng nhu cầu về dầu mỏ và sản phẩm đi từ

dầu mỏ trong công nghiệp nặng và phát triển cơ sở hạ  tầng cũng như cho sự phát triển hệ thống giao thông.

Mặc dù Trung Quốc bắt đầu những nỗ lực bảo toàn năng lượng từ năm 1979, khủng hoảng năng lượng vẫn gia tăng như là một hậu quả từ thiết bị  lỗi thời và kém hiệu quả, lạm dụng công suất, phát triển tài nguyên không đồng đều và sự phi lý về giá cả. Vào năm 2000, Trung Quốc sẽ cần 3,8 đến 4 triệu thùng dầu mỗi ngày với sự gia tăng nhu cầu 5 – 5,5% hàng năm trong suốt thập kỷ 90. Vào năm 2010, Trung Quốc sẽ cần phải nhập khẩu 100 triệu tấn dầu thô hàng năm nếu như không có mỏ dầu thay thế nào được tìm thấy(37). Mặc dù sản lượng dầu mỏ cũng gia tăng, nhưng mức

DK-1 ở Trường Sa

tăng lại chậm hơn. Gia tăng tiêu thụ dầu và chất lượng kém của dầu khai thác làm nổi lên câu hỏi vể tương lai của Trung Quốc trong vai trò một nhà xuất khẩu sản phẩm. Gia tăng tìm kiếm năng lượng một cách tuyệt vọng đã buộc Trung Quốc phải từ bỏ ý định ban đầu của mình là chỉ làm việc với hai công ty nước ngoài trong vùng giếng dầu Tarim, đang đề nghị họ khẩn cấp tìm thêm vùng giếng dầu mới.

Trung Quốc cho rằng  các nước có yêu sách ( về chủ quyền) khác  đã đơn phương khai thác dầu trong lãnh địa Trung Quốc. Khoảng 120 giếng đã được khoan dưới sự bảo trợ các nước này trong đường biên lịch sử  của Trung Quốc với sản lượng hàng năm trên 1 triệu tấn(38). PLA cho rằng trong lúc Trung Quốc không có khả năng khai thác dầu ở vùng biển Nam Trung Hoa, các nước có quân đội yếu ớt hơn đã lợi dụng sự chịu đựng và kiềm chế của Trung Quốc để lẵng lặng chôm chỉa dầu mỏ của Trung Quốc(39). Các nhà hoạch định quân sự của Trung Quốc đã sử dụng triết lý này – thêm vào tầm mức quan trọng về kinh tế của các tỉnh ven biển – như một biện minh cho việc hiện đại hóa quân sự nói chung và cho phình to ngân sách hải quân nói riêng.

Truy điệu các chiến sĩ đã hi sinh trên biển Đông

Những nhà quan sát khác không lạc quan gì về những ý đồ của Trung Quốc. Họ cho rằng Trung Quốc rất sợ  sự phân rã và đã quyết tâm siết chặt biên giới của mình , kiểm soát chặt chẽ những vùng mình đòi hỏi như là một phần của động cơ  phục hồi lãnh thổ nhằm tái xác lập một nước Trung Hoa vĩ đại hơn và hồi phục nhiệm vụ cổ xưa của mình là thế lực thống trị Châu Á. Theo học thuyết này, Trung Quốc muốn lập nên một vòng cung bảo vệ trên biển bao quanh mình và đã dấn thân vào một chiến dịch xông xáo để sở hữu và phát triển các loại vũ khí qui ước nhằm cho phép mình khẳng định quyền kiểm soát trên các đảo – và cuối cùng là toàn bộ vùng biển Nam Trung Hoa hay ngay cả vùng Đông Nam Á(40). Trong quan điểm này, vấn đề của Trung Quốc là đòi lại lãnh thổ về đất mẹ và gỡ bỏ những hệ quả của thế lực xâm lược phương Tây để lại đã ngụy tạo chia cắt các phần lãnh thổ mà đúng ra phải thuộc về Trung Quốc(41). Do đó Trung Quốc phải ‘thu hồi phần lãnh thổ bị thất lạc’ ngay khi có thể ; xem việc chiếm ngụ các đảo như một sự giảm thiểu đất đai bị mất đi chứ không phải là xâm lăng hay bành trướng lãnh thổ. Chiến lược này cũng sẽ bao gồm tiềm năng ngăn chặn các lực lượng hải quân đối địch trong khu vực như Ấn Độ hay Nhật Bản tiếp cận các bến cảng phía nam Trung Quốc cũng như kiểm soát tuyến đường thông thương biển và các eo biển xung yếu như eo biển Malacca, từ đó nâng cao sức mạnh và ảnh hưởng của Trung Quốc.

Trung Quốc có  thể cảm nhận rõ là với sự phát triển sức mạnh về chính trị và kinh tế của mình, thì sẽ bị chèn ép đòi hỏi  phải ghìm lại việc bung ra sức mạnh và bị trói buộc bởi các luật lệ, quy phạm và thể chế các loại mà mình không có nhiều lý lẽ cải lại. Một số người còn cho rằng Trung Quốc xây dựng lại hải quân vì bị kích động bởi ý thức hiểm họa từ phía Nhật và vấn đề chủ quyền quần đảo TS(Spratly) là một nguyên cớ thuận tiện đế đánh lạc hướng (41). Cũng có thể là với sự sụp đổ của khối Xô Viết, Trung Quốc mới được rảnh tay chuyển sự quan tâm từ biên giới Trung- Xô sang vùng biển Nam Trung Hoa(42). Quân đội Trung Quốc đã thấy rõ sự sụt giảm hiện diện quân sự của Nga và Mỹ trong khu vực, và sự xao lảng do việc bẩu cử Tổng thống và chuyển giao quyền lực chính quyền của Mỹ năm 1992, coi đó là một dịp may để tiến hành các dự tính của mình mà tương đối ít bị trừng phạt nhất.

Chi phí quốc phòng của Trung Quốc gia tăng ít nhất 21% lên đến 7,5 tỉ đô la vào năm 1995, và dường như đang làm tốt việc phát triển lực lượng hải quân cấp đại dương – là Hải quân PLA (PLAN)(43). Một số người còn tin rằng lực lượng lính thủy đánh bộ của Trung Quốc có đủ khả năng thực hiện đổ bộ và chiếm đóng đồng loạt tại Việt Nam, Philippines và Malaysia chắc chắn thành công. Họ khẳng định rằng tàu chiến của PLA và máy bay hải quân có trang bị tên lửa chiến lược đủ khả năng phá hủy trọng pháo và các hệ thống trang bị điện tử trên các đảo mà họ muốn tấn công, trước khi đổ bộ lính thủy đánh bộ(44). PLAN đang đóng mới các khu trục hạm và tiểu hạm có trang bị hệ thống ra-đa hiện đại và có khả năng phóng phi đạn. Hơn nữa, Trung Quốc đã có dự định mua 22 tàu ngầm tuần tiểu loại mới – trong đó có tàu ngầm loại 4 Kilo của Nga – sẽ cải tiến đột ngột khả năng của Trung Quốc trong vùng biển Nam Trung Hoa, đặc biệt là khả năng rải mìn. Một khi 24 chiến đấu cơ Su-27 kiểu Nga với khả năng chiến đấu và thả bom tầm xa và tiếp liệu trên không mới mua của Iran và Israel đi vào hoạt động, cán cân quân sự vùng Đông Nam Á sẽ biến đổi rõ rệt. Khi ấy Trung Quốc sẽ có đủ năng lực không quân để lan tỏa sức mạnh lên toàn bộ khu vực và xa hơn nữa, từ đó duy trì thế thượng phong trên không trung nơi các vùng đảo tranh chấp. Hơn nữa Trung Quốc lại cộng tác với Israel để phát triển và cải tiến chiến đấu cơ cho Không Lực Trung Quốc tương đương hệ F-16 của Mỹ, đã phát triển loại tên lửa di động có đầu nổ qui ước có thể đe dọa bất kỳ kẻ địch nào trong vòng 1.600 km. Trung Quốc cũng đã cải tiến khả năng chiến đấu trong một cuộc chiến dài hạn trên biển. Thêm vào điểm trên là việc Trung Quốc đã lập một căn cứ lực lượng phản ứng nhanh trên đảo Hải Nam mà nhiệm vụ của lực lượng này là bảo vệ các đảo Trung Quốc đang yêu sách.

Những nhà quan sát khác hạ thấp giả thiết củng cố lực lượng của Trung Quốc, cho rằng sẽ cần một thời gian nhất định trước khi Bắc Kinh có thể  đủ khả năng chiếm giữ các đảo đã bị  nước khác chiếm ngụ, và dù thế nào  đi chăng nữa, Trung Quốc phải cần rất lâu mới hiện đại hóa được hệ thống vũ khí cổ lổ sỉ của họ và đơn giản chỉ nhằm sao cho đàm phán được giá sàn mà thôi. Trường phái này cho rằng địa lý không dẫn đến một chiến thắng dễ dàng cho Trung Quốc trong bất kỳ một chiến dịch quân sự nào trong vùng quần đảo TS(Spratlys)(45). Viện lẽ như sau: ngay cả khi toàn bộ thiết bị quân sự của Nga đã được giao cho Trung Quốc theo các báo cáo thương vụ, khoảng cách giữa các đảo Spratlys và những căn cứ quân sự chủ yếu của Trung Quốc sẽ gây khó khăn cho họ trong việc duy trì  liên tục hoặc chu đáo sự bảo vệ từ trên không cho các tàu trong Hạm đội Biển Nam của mình. Thử nghĩ xem PLAN thiếu những tàu chiến trang bị tên lửa đất đối không (SAMs), sự thiếu vắng một màng chắn trên không hữu hiệu sẽ là một thảm họa. Ngay cả khi nếu PLAN có nhiều tàu trang bị hỏa tiển SAM, cũng chẳng giúp được gì cho lực lượng Trung Quốc hoạt động trong vùng phụ cận quần đảo TS (Spratlys). Hầu hết khí tài quân sự của Trung Quốc đơn giản là lỗi thời, và khi phải đối diện một lực lượng trang bị vũ khí thuộc loại “tinh khôn”, dù chỉ số ít thôi, cũng có thể là bất hạnh cho người Trung Quốc. Trong bất kỳ một cuộc đối đầu vũ trang nào thì hoàn cảnh như trên gần như không thể tránh khỏi do các đối thủ cạnh tranh trong khu vực với Trung Quốc đều phát triển cả về mặt giàu có lẫn tinh thông kỹ thuật. Trường phái này còn đẩy xa lý lẽ của mình rằng Trung Quốc quá tính toán và bận bịu với việc phát triển kinh tế nội địa khi phải chia bớt tài nguyên cho kiểu đối đầu khu vực như thế.

Có những giải thích khác viện dẫn tình hình chính trị trong nước là nguyên nhân sâu xa cho các động thái gần đây của Trung Quốc trên vùng biển Nam Trung Hoa. Có quan điểm cho rằng Bắc Kinh đơn giản chỉ muốn chứng tỏ cho một số tỉnh trong nước đang ngày càng cứng đầu, cũng như đối với phong trào dân chủ ở Trung Quốc và Hong Kong cùng các phong trào đòi độc lập ở Đài Loan, rằng Bắc Kinh đang kiểm soát chặt chẽ chính sách quốc gia(46). Một số khác thì đưa ra ý kiến rằng hành động của Trung Quốc là kết quả của trào lưu chủ nghĩa dân tộc đang dường như thay thế chủ nghĩa xã hội trong vai trò chất kết dính xã hội được ưa thích hơn(47). Trong quan điểm này, sự đẩy mạnh cải tạo nền kinh tế của Đặng Tiểu Bình đã đặt phe bảo thủ vào tình thế chống đỡ, và họ đang sử dụng chiêu bài dân tộc chủ nghĩa, như chủ quyền trên quần đảo TS (Spratlys), để tự khẳng định mình.

Một số khác xem đó như là một sự cân phân giữa hai phe: một chính sách quyết đoán hơn trong vùng biển Nam Trung Hoa đổi lại một sự “Coca-Cola-hóa” nền kinh tế Trung Quốc(48). Vậy là kinh tế có cả hai tác động “kéo” và “đẩy” vào đường lối của Trung Quốc ở vùng biển Nam Trung Hoa(49). Tổng thu nhập cao sẽ nâng cao khả năng của Trung Quốc trong việc phát huy sức mạnh, nhưng lo sợ tổn hại đến quan hệ kinh tế với các nước láng giềng lại dẫn đến kiềm chế sử dụng vũ lực. Tuy nhiên, một số người khác lại cho rằng sự e dè này chưa đủ lực kiềm hãm. Trong hoàn cảnh này, con đường thông qua Luật về Lãnh hải và Các vùng Phụ cận có thể xem là một phản ảnh sự lớn mạnh của Ủy ban Đối ngoại thuộc Quốc hội và các cố vấn cao cấp loại lá chắn già giặn ‘có bằng cấp’ đối với Bộ Ngoại thương. Quân đội và Cục Quản lý Đường biển Quốc gia có lẽ đã đẩy dự luật này thông qua trong lúc Bộ Ngoại thương và giới lãnh đạo đang bận bịu với các vấn đề khác, hoặc là không thông hiểu các vấn đề này. Bộ Ngoại giao bị bỏ mặc cho việc trấn an các nước có yêu sách khác là luật này không phải là một dấu hiệu thay đổi trong chính sách về liên kết phát triển. Trong hoàn cảnh này, Bộ Ngoại thương chủ trương xếp lại các tranh chấp và tiến hành liên kết phát triển ngay, trong lúc đó thì PLA chủ trương chiếm lại lãnh thổ ngay rồi sau này hãy khai thác – đưa đến kết cục là Trung Quốc mâu thuẫn giữa lời nói và việc làm.

Trong lúc này, Trung Quốc tiếp tục khiêu khích Việt Nam và dường như quyết định dùng chiêu ‘củ cà rốt và cây gậy’ để tách biệt mối quan hệ với Việt Nam ra khỏi mối quan hệ của Trung Quốc với các nước yêu sách khác trong vùng biển Nam Trung Hoa. Việt Nam công khai hỗ trợ đa phương liên kết phát triển khu vực trên trong lúc Trung Quốc nhấn mạnh vào việc dùng mối quan hệ song phương để thương thảo và dàn xếp với Việt Nam. Trung Quốc rõ ràng cố ngăn ngừa sự liên hiệp quyền lợi giữa Việt Nam và các nước ASEAN trong vấn đề này, và dường như đang áp dụng chiến thuật cổ điển của mình là ‘giết gà dọa khỉ’ – dùng các hành động chống Việt Nam để răn đe các nước yêu sách khác(50). Ngay cả một số người còn cho rằng Trung Quốc cố ý khiêu khích Việt Nam vào cuộc xung đột để xua đuổi những nhà đầu tư rời khỏi Việt Nam và làm trì hoãn nền kinh tế đang phát triển tương đối của Việt Nam(51). Ít ra thì thủ đoạn này cũng làm nản lòng các công ty dầu mỏ nước ngoài khi muốn hợp tác với nước yêu sách nào khác mà không phải là Trung Quốc.

Có thể Trung Quốc tin rằng thời gian đứng về phía mình nên có thể sử dụng các buổi hội nghị do Indonesia bảo trợ mà trì hoãn các nước yêu sách khác cho đến khi mình có đủ sức mạnh về kinh tế và chính trị để dọa dẫm các nước khác phải chấp nhận quyền bá chủ của Trung Quốc trên vùng biển Nam Trung Hoa. Vài người cho rằng Trung Quốc kiên  định ở vị trí của mình trong việc hợp tác nhờ vào khả năng quân sự đã cải tiến và nhu cầu về dầu mỏ gia tăng. Quỹ thời gian có được đó sẽ dùng vào việc gia tăng sự hiện diện thực thể của Bắc Kinh trong khu vực và hậu thuẩn cho vị trí trong đàm phán của họ, mua sắm thiết bị khoan giếng ngoài khơi, cải tiến năng lực kỹ thuật, và cải tiến khả năng quân sự lẫn việc triển khai sức mạnh của mình. Thực thế, việc tiếp cận từng bước một của Trung Quốc đã tỏ ra thành công vì mỗi bước xâm lấn là rất nhỏ bé trong khi chi phí để vạch trần trò bip bợm này có thể là rất cao.

Tuy nhiên, Trung Quốc sẽ sớm nhận ra mình lâm vào thế chống đỡ vì  bây giờ Việt Nam đã là một thành viên ASEAN. Mỹ  đã chấm dứt việc cấm vận chống lại Việt Nam và đang tái lập bang giao, trong lúc quan tâm đến các ý đồ của Trung Quốc đang phát triển trong vùng ASEAN và ra ngoài nữa. Trung Quốc do đó cần đến ASEAN hỗ trợ để chống lại cái mà họ cho là những rắp tâm của Tây phương nhằm kiểm soát, kiềm chế và làm suy yếu mình. Đặc biệt hơn, Trung Quốc sẽ sớm nhận ra mình cần phải đạt đến việc dàn xếp các vấn đề vùng biển Nam Trung Hoa với các nước có yêu sách trước khi vấn đề được quốc tế hóa bởi sự dính líu vào của các nước ASEAN không yêu sách và các thế lực bên ngoài.

Vài học giả  Trung Quốc tin rằng các tranh chấp sẽ tiến lên quốc tế hóa là việc không tránh khỏi vì vị  trí chiến lược của quần đảo TS(Spratlys) nằm vắt ngang các hải lộ huyết mạch, quyền lợi kinh tế về dầu mỏ, và các hiệp ước phòng vệ giữa một số nước có yêu sách và các thế lực bên ngoài – Malaysia và Singapore ký với Anh, Philippines ký với Úc, New Zealand và Mỹ(52) Các nhà phân tích quan ngại rằng Mỹ có thể bị lôi kéo vào cuộc tranh chấp bởi là đồng minh của Philippines và nếu được Philippines mời tham gia, như trong cuộc chiến vịnh Péc-xích năm 1990-91. Kịch bản này cho thấy trước rằng khi xảy ra đụng độ, Mỹ và Nhật sẽ tham gia bằng cách nào đó để bảo vệ tuyến giao thông đường biển huyết mạch(53). Các nhà phân tích này sợ rằng Mỹ sẽ hỗ trợ những cuộc thảo luận đa phương chính thức và rộng rãi về vấn đề quần đảo Spratly và có khi còn thử đóng vai trò người trung gian không chừng. Một nghiên cứu sâu hơn cho thấy Trung Quốc có thể đạt được một thỏa thuận có lợi hơn ngay vào lúc này, trước khi ASEAN và Việt Nam hình thành một mặt trận thống nhất chống lại mình. Bằng chứng về một chuyển biến trong vị thế của Trung Quốc có thể thấy được là phản ứng lập lờ ban đầu của họ đối với Bản Tuyên bố Manila của ASEAN về vùng biển Nam Trung Hoa, tiếp sau đó là thái độ hiển nhiên tán thành.

Trung Quốc tiêu biểu chọn cách cương/nhu trong các tranh chấp lãnh thổ và  dường như đã sử dụng chiến lược tương tự  đối với quần đảo TS(Spratlys)(54). Ví dụ  như trong lúc Bắc Kinh tăng cường chỗ đứng của mình tại đây và nâng cao khả năng sức mạnh tên lửa trong khu vực, dọa rằng sẽ sử dụng nếu cần thiết, thì đồng thời lại bày tỏ mong muốn bàn bạc cho các vấn đề. Bài học nhặt được khác về cách tiếp cận của Bắc Kinh với các tranh chấp lãnh thổ khác là họ mong muốn thương thảo và ngay cả tham gia vào (song phương) liên kết phát triển một khi họ không thể kiểm soát hết được vùng lãnh thổ đang tranh chấp, thí dụ như quần đảo TS(Spratlys) hoặc quần đảo Diaoyutai(Điếu Ngư Đài—Senkaku) ở biển Tây Trung Hoa. Tuy nhiên, nếu Trung Quốc kiểm soát chặt chẽ được trong vùng, như quần đảo HS( Paracels), thì họ càng không muốn thương thảo, đừng nói chi đến việc tham gia hợp tác nào khác. Càng khẳng định hơn, thái độ của Bắc Kinh trong tranh chấp lãnh thổ ở các nơi khác cho thấy họ chỉ muốn vận dụng cho một vị trí mạnh hơn trong mặc cả; một khi các quyền lợi khác về kinh tế và an ninh vượt qua sự quan tâm nhỏ nhen về quần đảo TS(Spratlys), Trung Quốc sẽ sẵn sàng thỏa hiệp.

Nếu những nước có yêu sách khác muốn thuyết phục Trung Quốc thật sự tham gia liên kết phát triển thì họ phải chú tâm đến những lợi ích khác của Trung Quốc và ràng buộc lợi ích đó vào bất kỳ một hợp đồng liên kết nào về vấn đề chủ quyền quần đảo TS(Spratlys). Sự gia tăng mạng lưới ràng buộc về kinh tế và chính trị của Trung Quốc có thể làm hạn chế khả năng hành động đơn phương của họ. Do đó, các nước yêu sách khác phải nhấn mạnh rằng liên kết phát triển sẽ cho phép tiến hành thăm dò và khai thác những tài nguyên khan hiếm mà không có nguy cơ xung đột, là điều cần quan tâm với tất cả các bên, kể cả Trung Quốc. Điều đó cũng khuyến khích đặt niềm tin vào Trung Quốc như là một nhà cái có trách nhiệm tại khu vực và gia tăng lòng tin trong giao thương, từ đó lôi cuốn thêm nhiều khoản đầu tư vùng Đông Nam Á đổ vào Trung Quốc. Đối với phe chủ nghĩa dân tộc tại Trung Quốc, một chương trình liên kết phát triển sẽ hợp pháp hóa sự có mặt của Trung Quốc trong vùng biển Nam Trung Hoa như là một cường quốc rộng lượng đang hành xử những gì mà họ xem như là thuộc về vai trò dẫn đầu hợp pháp bắt nguồn từ lịch sử.

Ngược lại, hành động bạo lực của Trung Quốc ở quần đảo TS (Spratlys) chống lại bất kỳ nước yêu sách nào – kể cả Việt Nam – có thể kích động sự phản đối kịch liệt của quốc tế, cô  lập về ngoại giao và sụp đổ đầu tư  nước ngoài na ná như sau cuộc khủng hoảng quảng trường Thiên An Môn. Ít nhất thì nó cũng sẽ làm tan nát hình ảnh tô vẽ hết sức công phu là một nước nghèo đơn giản chỉ còng lưng tự nhấc mình lên để tham dự vào hàng ngũ những quốc gia có nền kinh tế phát triển. Trung Quốc hẵn không nghĩ đến việc tham dự này theo cách đặc biệt hung hăng, mặc dù hoàn toàn có thể là họ sẽ tiến hành những thủ đoạn có ý đồ để cảnh báo và nắn gân những nước có yêu sách (về chủ quyền lãnh thổ) khác. Sự chiếm đóng của Trung Quốc ở rặng đá ngầm Mischief có thể, một phần nào đó, đã được tính toán để thử nghiệm cách giải quyết của ASEAN và Mỹ trong hướng can thiệp vào với danh nghĩa là đồng minh của Philippines. Các ví dụ khác nhằm soi rọi thêm ý đồ của Trung Quốc là sự cấp phát nhượng quyền khai thác dầu trên thềm lục địa của Việt Nam, ấn hành bản đồ quốc gia có gồm luôn phần thềm lục địa của Indonesia gần quần đảo Natuna, và hiện tại đang xây dựng một số cơ sở kiên cố trên đảo san hô vòng sát bên hông Philippines.

Bất chấp những nguyên do ngụy tạo , hành động của Trung Quốc đã làm các quốc gia ASEAN cảnh giác và thu hút sự chú ý của Mỹ và ngay cả Nga, quan tâm đến an ninh tuyến đường  thông thương trên biển  mà họ đã nhờ nó để giữ liên lạc với các khu vực Châu Âu và Châu Á. Lần đầu tiên kể từ thập niên 1970, quan niệm Trung Quốc là mối nguy tiềm tàng cho khu vực đã dần trở nên phổ biến. Hệ lụy của nó là cuộc liên hoan mua sắm vũ khí quy mô nhỏ trong khu vực sắp diễn ra. Philippines lập kế hoạch trang bị 3 tàu tuần tiểu loại mới có gắn tên lửa Exocet, là thứ mà Malaysia cũng đang ngấp nghé ngoài việc mua 30 chiến đấu cơ MiG-29 của Nga ra(55). Kịch bản tệ hại nhất là tần suất và qui mô các va chạm bạo lực sẽ gia tăng, gây nguy hiểm cho tự do hàng hải dọc theo các tuyến hải lộ chiến lược và sau cùng sẽ lôi kéo Mỹ và Nhật vào. Từ những lý do này, Trung Quốc dường như đã quyết định nếu không tham gia vào cuộc đối thoại Indonesia thì mạo hiểm hơn là chọn giải pháp tham dự vào.

Cách cư xử  của Trung Quốc từ thời xa xưa về tranh chấp biên giới đã thay đổi. Thái độ tích cực trong quá khứ cho thấy Trung Quốc sẽ không mềm dẽo chút nào trong việc dàn xếp tại vùng biển Nam Trung Hoa vì các mối quan tâm chiến lược chưa đủ trở nên gay gắt. Có lẽ chủ trương của Bắc Kinh là tìm kiếm hòa bình dọc theo biên giới và sự giao lưu kinh tế với nước ngoài sẽ dẫn đến hiện đại hóa đất nước. Thực vậy, Bắc Kinh có thể nhận ra là mối bang giao hiện tại với các nước láng giềng là tốt đẹp nhất kể từ cuộc cách mạng 1949, và có lẽ là tốt đẹp nhất trong vòng 200 năm qua.

Nếu các vấn  đề chiến lược trở nên cấp bách, thái độ tiêu cực giống thời xa xưa của Trung Quốc về tranh chấp biên giới sẽ trở nên thích đáng – cảnh báo và dàn quân rồi sau đó quyết định dùng vũ lực. Các nguy cơ đối với Bắc Kinh có thể làm thay đổi hiện trạng chính trị là bao gồm khuynh hướng về hợp tác Nhật-ASEAN-Mỹ trên vấn đề an ninh hoặc về hợp tác ASEAN-Việt Nam để kiềm chế ảnh hưởng của Trung Quốc lên khu vực – kiểu như là một hợp đồng liên kết phát triển tài nguyên trong vùng biển Nam Trung Hoa. Để đáp lại từng mối nguy cơ trên, Trung Quốc cần phải nhanh chóng tìm kiếm sự dàn xếp các tranh chấp về chủ quyền ở quần đảo TS(Spratlys). Thực vậy, Trung Quốc có thể cho ít nhượng bộ ở vấn đề trên, như là sửa đổi hoặc diễn dịch lại đường biên giới theo lịch sử, nhưng thực là dại dột khi trông chờ Trung Quốc từ bỏ yêu sách toàn bộ các đảo của mình hay chấp nhận mọi chiếm đóng ‘ngoại bang’ hiện thời.

Đáng ngại hơn, bệnh hoang tưởng dân tộc về việc này dường như tràn lan ở Trung Quốc. Tờ Nhân dân Nhật báo của Trung Quốc đã giương cao bóng ma âm mưu mới của Tây phương giống như những gì tiếp theo sau cuộc nổi loạn Boxer năm 1898-1901(56). Vài học giả cho rằng các nhà xây dựng chiến lược Trung Quốc trông thấy một chiến lược bao vây mới gồm sự lớn mạnh khả năng phòng vệ của Nhật Bản, xây dựng lực lượng vũ trang ở Đài Loan, cảnh báo từ quan hệ Mỹ-Việt Nam và Mỹ-Ấn Độ cùng sự khiêu khích chủ quyền Trung Quốc ở vùng biển Nam Trung Hoa. Có dấu hiệu cho thấy Trung Quốc xem Mỹ như là một hậu thuẩn hoặc thậm chí xúi dục Philippines hành động. Quan hệ trở lại  mới đây giữa Mỹ và Trung Quốc cũng sẽ không làm thui chột nhận thức này. Thực vậy, Trung Quốc dường như trong tâm trạng rộn ràng về thay đổi căn bản vị trí của mình vào chỗ Mỹ và sẽ không bao giờ chấp nhận sự hiện diện quân sự Mỹ ở Châu Á.

Bắt bớ tàu  đánh cá của ngư dân tỉnh Quãng Ngãi

Các thế lực bên ngoài và các nước láng giềng của Trung Quốc phải nhận thức điều trên khi so sánh với vị thế  mà Trung Quốc nắm giữ trước thập niên 90, Trung Quốc cân nhắc chính sách của mình qua việc gạt sang bên những tranh chấp vì sự liên kết khai thác ở một vùng nhượng quyền quan trọng. Đặc biệt điều này phải làm như vậy khi Trung Quốc xem bên tổ chức các cuộc hội thảo – Indonesia – như thành phần không trung lập vì những yêu sách của họ và họ đang cho các công ty Mỹ thuê nhiều vùng biển rộng nằm trong đường ranh yêu sách lịch sử của Trung Quốc. Tóm lại, chiến lược của Trung Quốc trong vấn đề này dường như tổng hợp sự mơ hồ, chủ nghĩa lấn sân từng chút, chiến thuật canh me, có dựa vào vũ lực, và chiến thuật “chia để trị”. Không rõ các yếu tố trên được sử dụng  theo cách thức phối hợp hay mạch lạc, và câu hỏi về ý đồ vẫn chưa trả lời được. Chính sách đa diện và dường như mâu thuẩn của Trung Quốc có thể sau cùng đã phát huy tác dụng. Có vẻ như Trung Quốc tiếp tục tăng lực bẩy từng chút một trong các buổi hội thảo Indonesia và tiếp tục gia tăng sự hiện diện của mình trong vùng biển Nam Trung Hoa.

Yêu sách của Trung Quốc (và cả của Đài Loan) về gần như  toàn bộ vùng biển Nam Trung Hoa căn cứ vào lịch sử thì không thề nào phù hợp với luật quốc tế hiện đại hoặc UNCLOS và đang bị gia tăng chỉ trích thậm chí nhạo báng. Nếu Trung Quốc tiếp tục theo đuổi yêu sách của mình một cách xông xáo và không mềm dẽo,  thì lại càng dấy lên nhiều vấn đề cơ bản thuộc công pháp quốc tế khi ủng hộ cho Trung Quốc nói chung, cả về nền tảng tư cách của Trung Quốc trong các mối quan hệ quốc tế.

Câu hỏi chiến lược chỉ có một: Họ thích cái gì hơn ? Trung Quốc sẽ sau cùng trở thành một thế lực kinh tế và quân sự chủ yếu; nếu vị  thế chính trị của họ không thay đổi và họ tiếp tục hung hăng gây sức ép về các yêu sách bành trướng của mình trong vùng biển Nam Trung Hoa, các đảo và vùng biển phụ cận có thể dễ dàng rụng vào tay họ như trái chín. Tối thiểu thì Trung Quốc sẽ chi phối vấn đề và chiếm phần béo bở nhất trong mọi cuộc dàn xếp. Chọn cách khác, Trung Quốc có thể sau cùng trở nên dân chủ hơn và cư xử hòa hợp hơn với những qui tắc xã hội văn minh quốc tế. Điều này gồm cả việc tuân thủ luật lệ quốc tế và sử dụng nó vào việc dàn xếp một cách hòa bình các tranh chấp – sử dụng củ cà rốt kinh tế thay vì cây gậy quân sự để mang lại một giải pháp mà họ quan tâm.

Vẫn còn le lói tia hi vọng. Tại cuộc gặp với các quan chức ASEAN ở  Hội nghị Thường niên ASEAN 1995 vào tháng 7 tại Brunei, Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Tiền Kỳ Thâm (Qian Qichen) khẳng định là Trung Quốc mong muốn lấy luật lệ quốc tế và UNCLOS làm căn bản cho thương thảo các vấn đề và muốn thảo luận với cả bảy thành viên ASEAN. Như vậy, Trung Quốc dường như đã từ bỏ toàn bộ đường ranh yêu sách theo lịch sử của mình và có lẽ đang chính thức nghiên cứu sửa đổi yêu sách của mình chỉ bao gồm phần lãnh thổ do Nhật nhượng lại cho Đài Loan vào năm 1945. Đài Loan cũng đang nghiên cứu thay đổi các yêu sách của họ chỉ bao gồm những đảo đã chiếm giữ bởi họ và Trung Quốc. Những yêu sách này không bao trùm các tuyến đường biển chủ yếu hay có ảnh hưởng gì đến quyền tự do đi lại trên biển trong khu vực. Ông Tiền cũng lưu ý rằng Trung Quốc luôn gắn liền tầm quan trọng to lớn vào vấn đề an ninh và tự do hải hành trong khu vực và do đó chắc chắn không có vấn đề gì trong việc này. Vào tháng 8-1995, Trung Quốc và Philippines loan báo về một bộ qui tắc ứng xử từ chối sử dụng vũ lực trong dàn xếp tranh chấp của họ. Hy vọng rằng hiệp nghị trên sẽ trở thành căn bản cho một qui tắc ứng xử toàn khu vực.

Sự thay đổi trong vị thế của Trung Quốc có thể đã làm cho sự cấp phát hoặc giải pháp đa phương mang tính khả thi hơn do việc từ bỏ hoặc tạm hoãn yêu sách của Trung Quốc về phần thềm lục  địa của các thành viên ASEAN. Trong hoàn cảnh này, có thể là quan trọng khi Đài Loan, ngược lại với Trung Quốc, đã đề xuất liên kết phát triển đa phương(61). Ngay cả một vài quan chức Bắc Kinh dường như xem việc các dự án tiến triển dần từ song phương sang đa phương, là nằm trong điều hư cấu thuận lợi của thỏa thuận ăn chia 50-50 từ “song phương” ASEAN – Trung Quốc. Tuy nhiên, vì UNCLOS không thể giải quyết tranh chấp chủ quyền trên các đảo, và Trung Quốc đã hoàn tất các thảo luận ‘song phương’ với ASEAN, cho nên không có những nhượng bộ quan trọng nào. Ông Tiền cũng đòi hỏi là Trung Quốc đã có chủ quyền không thể tranh cải được trên quần đảo TS(Spratlys) và vùng biển phụ cận, và rằng các đạo luật của Trung Quốc khẳng định chủ quyền vùng này sẽ giữ nhiệm vụ trong việc giải quyết vấn đề. Đáng ngại hơn là có báo cáo rằng Trung Quốc có kế hoạch giữ cuộc tập trận hải quân tại quần đảo TS (Spratlys) vào cuối năm 1995(62). Các thay đổi này có thể sẽ kích thích một cuộc chạy đua giữa Trung Quốc và Đài Loan, hoặc giữa cả hai với Việt Nam, để chiếm càng nhiều đảo càng tốt, đặc biệt các đảo ở rìa phía xa của quần đảo, xem đó là căn bản cho yêu sách của họ.

Tuy vậy, lời lẽ  của Trung Quốc trong lúc này đã phần nào làm dịu  đi sự lo lắng của ASEAN và giảm bớt căng thẳng trong khu vực. Nhưng không rõ lắm liệu sự thay đổi lòng dạ hiển nhiên này bắt nguồn từ mong muốn không chọc giận ASEAN trong lúc này khi quan hệ của Trung Quốc với Mỹ bị căng thẳng, hay xuất phát từ  mối quan tâm thực sự đến việc hợp tác khu vực gây ra bởi chủ trương ưu tiên cải tạo kinh tế, hoặc chỉ là một hệ quả của việc khả năng quân sự của Trung Quốc hiện tại còn hạn chế(63). Trước nay, Trung Quốc chưa bao giờ cho thấy một chút nào quan tâm đến việc thỏa hiệp yêu sách chủ quyền của mình đối với vùng biển Nam Trung Hoa và các đảo ở đó, bất chấp mối liên hệ mật thiết về mặt vị trí lãnh đạo của mình(64). Vấn đề là có phải nhu cầu hợp tác khu vực của nền kinh tế đủ sức kiềm chế tham vọng lâu dài về dân tộc chủ nghĩa của Trung Quốc. Chứng cứ thì không được khích lệ lắm, đặc biệt khi Trung Quốc bị thúc đẩy bởi nhu cầu mạnh mẽ là phục hồi lại tầm cỡ và lãnh thổ đã bị mất đi, và tiếp tục cải tiến khả năng quân sự không như từng bị kiềm chế bởi cán cân sức mạnh từ cuộc chiến tranh lạnh trước đây. Do vậy, tình hình ở vùng biển Nam Trung Hoa có thể tệ hại hơn trước khi nó tốt dần lên. Để gieo rắc sự tin tưởng, Trung Quốc phải theo sát những lời êm dịu của mình bằng những hành động tích cực.

II- BIỂN NAM TRUNG HOA VÀ CÁC MỐI QUAN HỆ QUỐC TẾ CỦA TRUNG QUỐC

Chủ tịch Hồ  Cẩm Đào duyệt danh dự Hải quân TQ trên đảo  Hải Nam

Trung Quốc và  Mỹ

Mỹ đang cố  gắng đứng ngoài các tranh chấp vùng biển Nam Trung Hoa. Đường lối chính thức của Mỹ về vấn đề này như sau:

. Mỹ thúc dục các quốc gia liên quan dàn xếp vấn đề một cách êm thấm trên tinh thần đề cao hòa bình, thịnh vượng và an ninh.

. Mỹ cực lực phản đối sự hăm dọa hoặc sử dụng sức mạnh quân sự để áp đặt lên bất kỳ  một quốc gia nào có yêu sách trong vùng lãnh thổ  biển Nam Trung Hoa và sẽ xem việc vi phạm trên là  nghiêm trọng.

Dàn khoan trên biển  Đông

. Mỹ không đứng ra phân giải phải trái về mặt luật pháp cho sự tranh giành yêu sách chủ quyền và sẵn lòng giúp đỡ nếu được các bên yêu cầu trong một giải pháp hòa bình cho các cuộc phân tranh yêu sách.

. Mỹ có  mối quan tâm chiến lược đối với việc duy trì tuyến liên lạc đường biển trong vùng và cho rằng cần thiết phải chống lại mọi yêu sách trên biển nào vượt quá sự cho phép của UNCLOS(1).

Tuân thủ chính sách này, Mỹ ủng hộ việc khai thác một cách hòa bình nguồn tài nguyên trong khu vực như là cách tốt nhất có lợi cho các bên. Mỹ cũng xác định là hoàn cảnh hậu chiến tranh lạnh hiện nay cung ứng một cơ hội tuyệt vời, là duy nhất, để hình thành một môi trường hợp tác an ninh tích cực trong khu vực. Mỹ hỗ trợ mạnh mẽ đối thoại đa phương về vấn đề an ninh khu vực, đặc biệt là nổ lực đang tiếp diễn của Indonesia nhằm mở ra một giải pháp hòa bình cho tranh chấp vùng biển Nam Trung Hoa, và thúc giục các bên tham gia sốt sắng làm việc trong khuôn khổ Indonesia đã đưa ra. Mỹ ủng hộ việc các nước yêu sách nổ lực liên kết giải quyết vấn đề và phát triển khu vực hơn là thúc đẩy yêu sách lãnh thổ của mình tiến lên một cách đơn phương. Phụ tá Bộ trưởng Winton Lord mới đây kêu gọi một sự trao đổi quan điểm chân tình các vấn đề trên  ở hội nghị RAF, và cho các bên có yêu sách đảm nhận việc thương thảo các vấn đề tranh chấp càng sớm càng tốt. Tại Hội nghị Cựu Bộ trưởng ASEAN năm 1992 – 1993, Mỹ hoan nghênh Tuyên bố của Hội nghị Bộ trưởng ASEAN về vấn đề biển Nam Trung Hoa và bày tỏ được góp phần hỗ trợ bằng bất kỳ cách nào mà các bên thấy rằng có ích. Mỹ cũng đã thông báo cho các công ty Mỹ về các đòi hòi về chủ quyền đang tranh chấp và mối nguy hiểm của việc tiến hành  việc thăm dò và khai thác  tại vùng có tranh chấp trước khi các bên đối thủ đạt được một  hiệp ước về khai thác.

Từ kinh nghiệm trong quá khứ, Mỹ nhận thức rằng áp lực thái quá lên Bắc Kinh sẽ phản tác dụng. Đặc biệt điều này đúng trong hiện tại vì đối đầu với Trung Quốc có thể làm mạnh thêm phe cứng rắn dân tộc chủ nghĩa do sự mất điểm của phe ôn hòa trong hoàn cảnh nạn thao túng bè phái nhằm kế vị một Đặng Tiểu Bình đang đau yếu. Trong một nghiên cứu của các chuyên gia về Trung Quốc do Lầu Năm góc ủy thác, chỉ có một trong ba kịch bản có thể diễn ra thời hậu Đặng Tiểu Bình tại Trung Quốc, kịch bản mường tượng như là “cải tổ tận gốc” này không bao gồm khả năng va chạm quân sự trong vùng đảo TS Spratlys(2). Trong sự khuấy nhiễu từ cuộc tranh chấp Philippines-Trung Quốc trên rặng đá ngầm Mischief, Chỉ huy của Hạm đội Thái Bình Dương là Đô đốc Richard Macke tuyệt đối đánh giá thấp mọi đe dọa do hoạt động của Trung Quốc đưa ra tại vùng đảo TS (Spratlys). Tuy nhiên, ông cũng đã yêu cầu Trung Quốc tuân thủ Tuyên bố Manila của ASEAN năm 1992 về vùng biển Nam Trung Hoa, kêu gọi một giải pháp hòa bình cho các tranh chấp. Trong lúc chưa được nắm chắc hướng hành động của Trung Quốc, ông khẳng định là khi đối phó với Bắc Kinh thì đối thoại vẫn tốt hơn là cô lập hay đối đầu, và nhấn mạnh rằng việc gia tăng sức mạnh hải quân của Trung Quốc không nhất thiết là hăm dọa đến ổn định khu vực – quan trọng hơn nữa, ông khẳng định, là ý đồ của Trung Quốc. Trong phạm vi này, Macke trích dẫn cuộc thương thảo hiện tại giữa Bắc Kinh và Việt Nam về tranh chấp lãnh thổ và những nổ lực bắt chuyện với Philippines là những dấu hiệu đầy hy vọng cho thấy quan tâm của Trung Quốc đến nền hòa bình trong khu vực(3).

Trong lúc chính quyền Clinton đang cố tách mình ra khỏi các tranh chấp gần đây, Chủ tịch của Tiểu ban  Công tác Châu Á – Thái Bình Dương của Quốc hội do đảng Cộng hòa dẫn đầu, Benjamin Gilman, đưa ra giải pháp cảnh cáo Trung Quốc không được dùng vũ lực hoặc sự đe dọa trong khu vức quần đảo TS (Spratlys). Một giải pháp tương tự được điều trần tại Thượng viện,  trong lúc có một dự luật chính sách đối ngoại chủ yếu trình trước Quốc hội đã kết án ‘hành động hung hăng chống Philippines’ của Trung Quốc và kêu gọi chính quyền Clinton xem xét lại nhu cầu phòng thủ của các quốc gia dân chủ đang có yêu sách về lãnh thổ trên vùng biển Nam Trung Hoa(4). Tổng thống Fidel Ramos của Philippines đã tiết lộ  Tổng thống Clinton đã trấn an ông vào tháng 11-1993 rằng nước Mỹ sẽ không cho phép các tranh chấp tại quần đảoTS(Spratlys) giải quyết bằng vũ lực, tuy nhiên điều này có khả năng là một sự diễn dịch theo chính sách xưa nay của Mỹ là chống lại hành động dùng vũ lực để giải quyết tranh chấp.

Mặc dù Mỹ  cố tránh xa các tranh chấp vùng biển Nam Trung Hoa (hơn là thúc giục một giải pháp hòa bình), xô xát tại rặng đá ngầm Mischief mới đây có dính líu đến đồng minh của họ là Philippines, và Trung Quốc đã làm cho các chính trị gia Mỹ và các nhà kế hoạch quân sự thêm quan tâm đến an ninh khu vực. Tháng 6-1995, Phụ tá An ninh Quốc tế thuộc Bộ Quốc Phòng Mỹ là Joseph Nye phát biểu rằng ‘nếu xung đột quân sự xảy ra ở quần đảo Spratlys và gây trở ngại đến “quyền tự do trên biển”, [Mỹ] sẽ chuẩn bị cho sự hộ tống và đảm bảo quyền tự do đi lại trên biển được tiếp tục bình thường'(5). Chiến lược an ninh mới của Mỹ cho vùng Đông Á – Thái Bình Dương chứa đựng một sự điều chỉnh về thái độ trong chính sách của Mỹ: ”Mỹ có một quan tâm chiến lược trong việc duy trì các tuyến giao thông biển trong khu vực và nghĩ rằng mình cần thiết phải chống lại mọi yêu sách hàng hải nào vượt quá mức cho phép của Hiệp định Luật đường biển(6). ‘(Vì Mỹ chưa phê chuẩn Hiệp định Luật đường biển, và có lẽ sẽ không bao giờ phê chuẩn, một tuyên bố tiếp theo sau của Văn phòng Bộ trưởng Mỹ đã khôn khéo thêm vào ‘hoặc luật quốc tế’ sau từ Hiệp định Luật đường biển.)’ Mặc dù cũng bao gồm luôn các yêu sách của Philippines, tuyên bố này ắt hẵn nhắm vào Trung Quốc. Tuy nhiên, tiêu chuẩn và tiền lệ luật pháp của Tây phương có rất ít ảnh hưởng đến Trung Quốc. Rõ ràng đó sẽ là tài ngoại giao và sự dàn xếp lẫn nhau, chứ không phải luật pháp quốc tế, sẽ đóng vai trò trung tâm trong việc gỡ rối các vấn đề biển Nam Trung Hoa. Sau cuộc xung đột ở rặng đá ngầm Mischief, Mỹ cảnh báo Trung Quốc là họ phải bảo vệ sự an toàn các tuyến đường biển và tìm cách làm sáng tỏ bản chất, qui mô và cơ sở các yêu sách của Trung Quốc. Đáp trả của Trung Quốc rằng đòi hỏi của họ sẽ không gây trở ngại gì đến quyền tự do hải hành cũng đã xoa dịu phần nào phía Mỹ(7).

Tuy nhiên, khi Hải quân Trung Quốc phiêu lưu càng xa bờ hơn, thì sẽ lọt vào vòng đai của vùng biển có liên quan đến quyền lợi hàng hải của Ấn Độ, Nhật Bản và Đông Nam Á. Chắc chắn là sẽ đụng đầu với lực lượng Hải quân Mỹ. Thực vậy, rắc rối gần đây giữa hàng không mẫu hạm Mỹ là Kitty Hawk và một tàu ngầm nào đó của Trung Quốc trong vùng Hoàng Hải có thể là điềm báo trước những cuộc đụng độ trong tương lai. Một Trung Quốc thời hậu Đặng Tiểu Bình đầy lòng tự hào dân tộc và thích quyết đoán sẽ nghiêng về lối đối phó bằng bạo lực dễ dẫn tới đụng độ súng đạn với Mỹ. Để tránh những rắc rối này, Mỹ đã đề nghị đến Trung Quốc những chuổi hành động khẩn cấp đễ kìm chế leo thang hoạt động quân sự. Kế hoạch của Mỹ là sẽ thiết lập những hướng dẫn tổng quát nhằm thông báo cho nhau về lịch diễn tập hải quân và cách xử lý những rắc rối không lường trước được ở gần vùng biển mỗi bên. Mỹ cũng quan tâm đến việc định rõ các tuyến biên giới mà Trung Quốc  cho rằng đó là yêu sách lãnh hải của mình. Trung Quốc đã từng từ chối các đề xuất tương tự từ những nước khác và họ không chắc là sẽ chấp nhận đề nghị của Mỹ.

Có khả năng dễ dự đoán nhất là sự đối đầu giữa Trung Quốc và Mỹ tập trung tại vùng Đông Nam Á  là nơi quan yếu về kinh tế và lệ  thuộc vào đường biển. Đông Nam Á ngày càng tỏ  ra là nơi tập trung cạnh tranh về hải quân. Mỹ  nằm chễm chệ vững chải trong vùng với trao đổi thương mại hai chiều đang vươn cao; đầu tư thực chất vào khai thác nguyên liệu; các nhà xưởng sản xuất và nhiều cơ quan tài chính; và các mối quan hệ sẵn có về chính trị và quân sự với nhiều nước ASEAN. Do đó, những chồng chéo trong quyền tài phán, cạnh tranh yêu sách lãnh thổ và tổng thể về mặt kinh tế sẽ là phép thử quyết tâm của Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, ASEAN và Mỹ. Trong một chiều hướng đáng ngại, các đơn vị chiến đấu chủ lực trên bộ của Hạm đội Nam Trung Hoa đã kích hoạt hệ thống khai hỏa bằng ra-đa và cài sẵn trên tàu  chiến  gần các đảo  TS (Spratly) trong suốt sự kiện Trung Quốc-Philippines tháng 12-1944 đến tháng giêng 1995. Vài người giải thích cho hành động này như một cảnh báo người ngoài phải tránh xa vụ việc ‘cải cọ mang tính địa phương’ này(8).

Nhưng những thế  lực bên ngoài như Mỹ và đồng minh là  Nhật Bản có mối quan tâm về an ninh và kinh tế rõ rệt trong việc giữ thông suốt các tuyến thông thương trong vùng biển Nam Trung Hoa. Chừng khi nào mà sự liên hệ an ninh Mỹ-Nhật còn chặt chẽ thì chừng ấy Nhật Bản không cần xây dựng lực lượng Hải quân và Không quân để bảo vệ cho các tuyến thương mại đường biển của mình. Các tàu chở dầu của Nhật Bản chuyên chở 70% lượng dầu cung cấp cho Nhật qua đường biển Nam Trung Hoa và Hạm đội thứ 7 cũng cần được vận động tự do và linh hoạt, và đặc biệt cho các tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân của họ, một lộ trình không bị rình mò theo dõi trong khu vực. Trong nhận thức này, thật không thực tế khi Trung Quốc đề nghị Mỹ và Nhật ‘hãy lo việc các anh’ và đứng ngoài hoàn toàn các tranh chấp. Trước hết, quyền lợi của các công ty dầu mỏ Tây phương, quyết định bởi sự dàn xếp các tranh chấp, chính là ‘việc của các anh’. Thứ đến, chính Trung Quốc là người mời phương Tây tham gia vào qua việc mời gọi cho công ty dầu mỏ Mỹ (Crestone) thuê vùng biển đang có tranh chấp với Việt Nam.

Một số người ở Nhật tin rằng có vài quan chức Mỹ thích cô lập và làm Trung Quốc mất ổn định, hoặc là chịu đựng sự bất ổn này vì  muốn Trung Quốc tiến bộ lên nền dân chủ, và cho rằng ASEAN có thể hỗ trợ một chính sách như thế(9). Mặc dù chính sách của Mỹ cả quyết rằng một nước Trung Quốc ổn định là tối cần thiết cho hòa bình, ổn định và tăng trưởng kinh tế trong khu vực Châu Á-Thái Bình Dương, thái độ của Trung Quốc vẫn rất đáng ngờ(10).

Thực vậy, có  thể Trung Quốc  sợ rằng nếu hành động quá  xông xáo trong vụ quần đảo TS(Spratlys), Mỹ  sẽ dùng vấn đề này làm điểm tập hợp  để phát động chính sách ngăn chận chống lại mình. Ủng hộ nhận thức này, vài nước Đông Nam Á đã mời Mỹ làm trung gian cho những tranh chấp trong một cố

Hạm đội của TQ

gắng tránh bị  Trung Quốc hiếp đáp. Ngay cả Thượng viện Philippines còn thảo luận xem Hiệp ước Hỗ tương Phòng Thủ  ký với Mỹ có thể áp dụng được trong trường hợp lực lượng Philippines bị tấn công tại TS( Spratlys) hay không. Cựu bộ trưởng Mỹ James Baker, người đã tham dự kỳ họp Liên minh Cựu Bộ trưởng ASEAN 1992, đã viết rằng ‘cái mà chỉ là mặt phụ về an ninh trong thời Chiến tranh Lạnh [của chúng ta]  đang trở thành nhân tố căn bản chủ đạo cho cam kết quốc phòng của chúng ta trong vùng [Châu Á]: giữ gìn cân bằng địa chính trị, trở thành một người môi giới lương thiện, [và] tái đảm bảo(an ninh) trước một tình hình không chắc chắn'(11). Thực vậy, sự hiện diện của máy bay tàu chiến Mỹ trong vùng biển Nam Trung Hoa thường được tin tưởng là có ảnh hưởng đến sự ổn định trong vùng có  tranh chấp tại quần đảo TS(Spratlys). Nhưng các nước ASEAN hiện đang sợ rằng nếu không có sự hiện diện của Mỹ, các bên tranh chấp sẽ ít bị kiềm chế hơn trong việc đòi hỏi và cưỡng chế các đòi hỏi của mình.

Mỹ có thể  được mời gọi đóng vai trò người đảm bảo, từ đó sẽ xoa dịu những lo lắng về vi phạm các thỏa thuận đã đạt được. Trong lúc việc phác thảo các điều khoản cho một thỏa thuận như  thế phải xuất phát từ các nước có yêu sách, Mỹ có thể sửa soạn cho việc thúc đẩy Trung Quốc hợp tác và xây dựng lại việc đảm bảo cần thiết cho các nước Đông Nam Á dựa vào sự chấp thuận của Trung Quốc. Mỹ đã thúc dục Trung Quốc minh bạch hóa chủ trương của mình và xây đắp lòng tin cho các nước trong khu vực để họ không e dè trường hợp tệ hại nhất và tránh được cuộc chạy đua vũ trang. Trớ trêu thay, vài nước ASEAN, do cảnh giác Trung Quốc, ngần ngại cho phép Mỹ bố trí trước các khí tài quân sự ở ngoài khơi của họ vì lo sợ sự hiềm khích củaTrung Quốc.

Tuyến đường biển từ Vịnh Péc-xích đến biển Đông

Vấn đề biển Nam Trung Hoa đã nổi cộm, gần như đứng đầu trong lịch trình hội đàm hiện nay giữa Mỹ và  Trung Quốc. Ngày 17/4/1995, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ  Warren Christopher nhắc nhở Ngoại trưởng Trung Quốc Tiền Kỳ Thâm (Qian Qichen) là Mỹ có nghĩa vụ trong hiệp ước phòng vệ Philippines trước mọi sự tấn công uy hiếp. Khunh hướng tăng cường tên lửa của Trung Quốc,  phát triển hải quân đại dương và sự khẳng định chủ quyền trong vùng biển Nam Trung Hoa khiến TQ trở thành kẻ thù tiềm năng của Mỹ trong bất kỳ một kế hoạch chiến lược toàn diện nào. Nếu chưa làm trước đây, thì nay việc bố trí của quân đội Mỹ sẽ bắt đầu xem xét kỷ lưỡng đến các yêu sách quá đáng của Trung Quốc, và khả năng dính líu tới xung đột tại các tuyến đường biển của mình trong vùng biển Nam Trung Hoa. Thậm chí đã có những báo cáo cho biết Mỹ đã đặt Trung Quốc vào vai trò là đối tượng “kẻ thù” trong kế hoạch liên kết tập trận hải quan với các đồng minh tại khu vực(12).

Trong âm hưởng của câu chuyện rặng đá ngầm Mischief, Tổng thống Ramos tiết lộ rằng Mỹ đã đề nghị được góp phần trong các cuộc tập trận hải quân song phương. Các phi công thuộc không lực Philippines được phép bay thử  máy bay F-16 của Mỹ mở đầu cho một hợp  đồng mua bán máy bay và cuối tháng 7-1995, binh sĩ Philippines đóng tại Puerto Princesa được biệt kích hải quân Mỹ huấn luyện kiểu chiến tranh đặc biệt. Những việc mua bán vũ khí, huấn luyện và tập trận như trên đơn thuần chỉ được xem là sự trấn an của Washington vẫn giữ những gì được ủy thác đối với an ninh khu vực. Nhưng sự tham dự của Mỹ có thể khuyến khích một sự liên kết địa chính trị mới ở Châu Á – một Đông Nam Á với sự yễm trợ ngấm ngầm của Mỹ và có lẽ cả Nhật Bản liên kết chống lại Trung Quốc. Nhật Bản có thể sẽ tận dụng tình thế để nhanh chóng bành trướng lực lượng hải quân. Đã có báo cáo rằng trong một động thái bất thường, Thủ tướng Nhật Bản là Koichi Murayama đã bày tỏ sự quan tâm về những hành động của Trung Quốc ở rặng đá ngầm Mischief khi ông gặp Thủ tướng Trung Quốc Lý Bằng (Li Peng) vào tháng 4-1995(14). Nhật Bản quan tâm với những gì họ nắm được về chủ nghĩa bành trướng lén lút của Trung Quốc và có thể tự hình dung rằng phải sẽ cản trở tham vọng của Trung Quốc, có lẽ thông qua sự trừng phạt về kinh tế.

Tàu chiến TQ bắn tên lửa đối hạm thế hệ mới

Có thể Mỹ  sẽ tìm cách tránh chọc giận Trung Quốc và làm trầm trọng thêm quan hệ hai bên bằng cách không tự  mình trực tiếp tham gia vào  các cuộc tranh chấp. Tuy nhiên, có một số bước mà Mỹ có  thể nghiên cứu nhằm thúc đẩy một giải pháp.

Mỹ có thể  nhắc lại và mở rộng chủ trương của mình về những vấn đề trên như sau:

. Mỹ chống lại việc dùng vũ lực để dàn xếp tranh chấp;

. Mỹ sẽ  quan sát và mạnh dạn quan tâm đến bất kỳ  sự trở ngại nào đến quyền tự do và an toàn hàng hải trong vùng biển Nam Trung Hoa;

. Trong lúc Mỹ  không đứng về bên nào trong các tranh chấp, nói chung, Mỹ chống lại các đòi hỏi quá đáng không phù hợp với luật quốc tế hoặc thông lệ;

. Mỹ hỗ  trợ tiến trình do Indonesia đăng cai và thúc giục các bên sử dụng nơi đây như là một diễn đàn thương thảo để đạt đến một giải pháp đa phương cho các tranh chấp.

Mỹ cũng có  thể đạt được cùng  lúc một tác dụng phụ  tốt đẹp, như biểu thị cho Đài Loan hiểu rằng một giải pháp tiếp cận một cách mềm dẽo hơn  đến vấn đề tranh chấp và tiến trình Indonesia sẽ được mở ra.. Mỹ cũng có thể theo đuổi sự trung lập ‘chủ động’ của mình bằng cách lay động Đài Loan và Trung Quốc nhằm làm rõ những đòi hỏi đặc thù của họ cùng những cơ sở họ dựa vào(để đưa ra yêu sách), từ đó có thể làm sáng tỏ hơn những ý đồ của Trung Quốc.

Tuyến đường biển và căn cứ hải quân  TQ trên vùng biển từ Vịnh Péc-xích đến Thái Bình Dương

Giữ vững chủ  quyền trên biển Đông

(Còn tiếp)

Copyright © 2009 by Bauxite Việt Nam International http://bauvinal.info.free.fr  http://bauxitevietnam.free.fr

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s