Quyền Dân chủ

Quyền Dân chủ

Tài liệu giáo dục về Nhân quyền do cơ quan LHQ phát hành

“Mọi người đều có quyền tham gia vào chính quyền của đất nước mình, một cách trực tiếp hay thông qua các đại diện được tự do lựa chọn. Mọi người đều có quyền được hưởng các dịch vụ công cộng của đất nước mình một cách bình đẳng. Ý chí của nhân dân là cơ sở tạo nên quyền lực của chính quyền; ý chí đó được thể hiện qua các cuộc bầu cử định kỳ, thực chất, theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu, bình đẳng và được thực hiện thông qua bỏ phiếu kín hoặc thông qua các thủ tục bỏ phiếu tự do tương tự”.
Điều 21 Tuyên ngôn thế giới về quyền con người 1948

CÂU CHUYỆN MINH HỌA

Thiết lập nền dân chủ ở Đông Timo

Vào năm 1999, sau 450 năm bị nước ngoài cai trị và 25 năm bị Indonesia chiếm đóng, người Đông Timo đã đi bầu cử cho nền độc lập trong cuộc trưng cầu dân ý toàn quốc dưới sự giám sát của Liên hiệp quốc. Lời kêu gọi độc lập tách khỏi Indonesia ngay lập tức bị đàn áp. Với sự quay trở lại của lực lượng vũ trang Indonesia, các nhóm dân quân thân Indonesia đã ứng trả lại bằng cách giết chết ít nhất là 1.000 người và trục xuất hàng trăm nghìn người sang Tây Timo Indonesia. Các thị trấn và làng mạc bị quân đội phá hủy.

Để đối phó với cơn khủng hoảng, Liên hiệp quốc đã triển khai quân đội vào ngày 20 tháng 9 năm 1999 và thành lập Cơ quan Quản lý chuyển tiếp Đông Timo (UNTAET) vào ngày 26 tháng 10. Với sự giúp đỡ của Liên hiệp quốc, Nước Cộng hòa Dân chủ Đông Timo chính thức được thành lập vào ngày 20 tháng 5 năm 2002. Một hội đồng lập hiến gồm 88 thành viên đã được bầu cử vào ngày 30 tháng 8 năm 2001 trong lần bầu cử dân chủ tự do đầu tiên ở Đông Timo. Hội đồng đã soạn thảo hiến pháp quốc gia, thành lập nước cộng hòa dân chủ cùng nghị viện, thủ tướng chính phủ và tổng thống.

Cuộc tuyển cử tổng thống đầu tiên được tổ chức vào ngày 14 tháng 4 năm 2002. Người được bầu là Xanana Gusmao, cựu lãnh đạo du kích trong cuộc đấu tranh giành độc lập. Gusmao là một huyền thoại trong dân chúng và mọi người hy vọng rằng sự nổi tiếng của ông sẽ giúp ổn định đất nước. UNTAET được thay thế bằng Phái đoàn hỗ trợ Liên hiệp quốc tại Đông Timo (UNMISET). Cơ quan này tồn tại đến tháng 5 năm 2003. Với 5.000 quân lính và 1.250 sĩ quan cảnh sát, UNMISET đã hỗ trợ chính phủ đảm bảo an ninh cho công dân của đất nước trong suốt năm đầu tồn tại. Ngày 27 tháng 9 năm 2002, Đông Timo đã trở thành thành viên thứ 191 của Liên hiệp quốc.

Công lý và hòa giải

Sự chuyển đổi sang nền dân chủ của Đông Timo đã bị che phủ bởi thực tế là phần lớn những người phạm tội hung bạo vào năm 1999 đã không được đưa ra giải trình tội ác của họ. Hầu hết thủ phạm sống ở Indonesia, và chính phủ từ chối dẫn độ những kẻ tình nghi này cho chính quyền Đông Timo.

Sau áp lực mạnh mẽ từ phía cộng đồng quốc tế, Chính phủ Indonesia đã thành lập Tòa án quyền con người ở Jakarta để khởi tố những kẻ phạm tội chống lại loài người vào năm 1999. Tòa án được thiết lập để xét xử các quan chức chính phủ và các thành viên của lực lượng an ninh.

Nhiều quan sát viên đã chỉ trích sự thất bại của Tòa án trong việc kết tội kẻ tình nghi chính, Tổng
tư lệnh Wiranto, người đứng đầu lực lượng vũ trang Indonesia trong thời gian diễn ra cuộc tàn sát. Ngoài ra, các sĩ quan bị đưa ra xét xử đều được tuyên bố trắng án hay chỉ bị án nhẹ. Cả Uỷ ban quyền con người của Liên hiệp quốc và các tổ chức quyền con người như Tổ chức Ân xá quốc tế và Tổ chức Theo dõi quyền con người đã tranh luận rằng các phiên tòa xử đã có những sai lầm nghiêm trọng ngay từ đầu.

Những người vận động cho quyền con người cho rằng cần thành lập một tòa hình sự quốc tế về Đông Timor do Liên hiệp quốc bảo trợ để xét xử các hành động bạo lực giống như ở Yugoslavia và Rwanda trước đây.

Tuy nhiên, các nhà lãnh đạo Đông Timo có sự phân chia quan điểm đối với số phận của các dân quân vi phạm các tội ác tàn bạo.

Với nỗ lực thúc đẩy tinh thần thống nhất và hòa giải quốc gia, Tổng thống Gusmao đã bày tỏ chủ trương là những người phạm tội dùng bạo lực nên được khoan hồng. Tuy nhiên, Thủ tướng chính phủ Mari Alkatiri lại cho rằng công lý phải được bảo vệ.

Những thách thức trước mắt

Chính phủ cũng phải đối mặt với thách thức hồi hương của hàng nghìn người tị nạn. Nhiều thử thách còn nằm phía trước quốc gia non trẻ này, đó là cách giải quyết đối với những thủ phạm gây ra hành vi bạo lực, hàng trăm nghìn người tị nạn, nghèo đói và tất nhiên cả việc thúc đẩy chế độ dân chủ mới giành được.

Với sự giúp đỡ của Liên hiệp quốc, nền dân chủ độc lập mới của Đông Timor (hay Timor Leste bằng tiếng Bồ Đào Nha là một trong hai ngôn ngữ quốc gia cùng với tiếng Tetun) sẽ có thể đối mặt và vượt qua những thử thách này. Một số lượng dự trữ khổng lồ dầu và khí trong lãnh hải của đất nước cũng cung cấp cho quốc gia trẻ này những nguồn tài nguyên thiết yếu cần để xây dựng và duy trì xã hội công dân và nền văn hóa dân chủ được thành lập dựa trên nguyên tắc bao hàm, có sự tham gia của người dân và phẩm giá con người.
(Nguồn: phỏng theo BBC World Service: http://www.bbc.co.uk/worldservice/people/features/ihavearightto/index.shtml

ĐIỀU CẦN BIẾT

1. DÂN CHỦ CÓ TIẾN LÊN KHÔNG?

Quyền tham gia là trung tâm của quyền con người và là nền tảng của các nguyên tắc, tầm nhìn và các giá trị của Mạng An ninh con người. Chương trình nghị sự chính sách cụ thể được các nước thành viên làm theo, sự tiến bộ của an ninh con người phụ thuộc vào cả sự tham gia của người dân và dân chủ.

Dân chủ thường được hiểu là quyền lực của nhân dân. Tuy nhiên, khái niệm dân chủ phức tạp hơn là định nghĩa về nó. Đó là một hình thức của chính phủ, cũng là một ý tưởng nhấn mạnh tới việc tổ chức pháp lý, chính trị – xã hội của nhà nước, dân chủ có thể được xem như là một hệ tư tưởng, nó xuất hiện dưới hình thức của nhiều mô hình khác nhau cả trong thực tế và trong lý thuyết khoa học – nói chung dân chủ bao hàm cả những ý nghĩa khác nhau, không kể hết được. Nhưng về bản chất, dân chủ liên quan chặt chẽ tới các nguyên tắc quyền con người và không thể thực hiện chức năng nếu không đảm bảo đầy đủ việc tôn trọng và bảo vệ phẩm giá con người.

Ngoài quyền tham gia và quyền đại diện, dân chủ còn có tính bao hàm, tức là quyền này có đầy đủ trong cuộc sống của công dân ở một cộng đồng, một khu vực hay một nhà nước. Cách thức để một cá nhân công dân có thể thực hiện đầy đủ quyền được tham gia là ở quyền được tự do làm theo ý mình. Đó là một quyền không thể bị từ chối. Cùng với tính bao hàm, khái niệm thuyết đa nguyên là trọng tâm của nền dân chủ. Thuyết đa nguyên có nghĩa là vượt qua “cái khác” và khẳng định rằng, mọi người với các kinh nghiệm hiện tại về con người khác nhau, có thể sống cùng nhau theo phẩm giá, pháp quyền, và ở đó tính đa dạng được xem như là một nguồn lực cho sức mạnh và tính kiên cường. Về cơ bản, không một người nào với một yêu cầu đúng đắn của công dân hay các hình thức của quá trình pháp lý lại có thể bị từ chối tính bao hàm và phẩm giá con người. Đây chính là thử thách của dân chủ.

Có một mối quan hệ rõ ràng giữa các cơ cấu không dân chủ và các vi phạm quyền con người. Nhưng những nền dân chủ chức năng có thể yếu đi nếu chúng phủ nhận quyền con người. Một vi phạm là có tính cụ thể nhưng sự phủ nhận quyền con người – có thể thường là phủ nhận tính bao hàm và thuyết đa nguyên – là mang tính hệ thống và xã hội. Ví dụ, thậm chí một nền dân chủ tiến bộ như Canada, một quốc gia đi đầu về chỉ số Phát triển con người của Liên hiệp quốc thừa nhận rằng tính bao hàm của nền dân chủ nước này chưa đạt được vì liên quan đến người thổ dân. Ở nhiều nền dân chủ tiến bộ, tính bao hàm toàn diện của phụ nữ trong các vòng quyền lực và các khía cạnh thế lực tiếp tục bị từ chối. Ở Mỹ, tính bao hàm và thuyết đa nguyên là một cuộc đấu tranh không ngừng của các dân tộc thiểu số và các cộng đồng giới tính như những người đồng tính luyến ái và những người đồng tính nữ. Ngược lại, sự thất bại của tính bao hàm và những thiếu hụt trong thực tiễn của thuyết đa nguyên có thể tự chuốc lấy hậu quả. Người ta vẫn thấy những vấn đề này xảy ra trên diện rộng và tình trạng bạo động dân sự bạo lực ở Pháp vào cuối năm 2005, bắt đầu trong cộng đồng dân tộc thiểu số và tình trạng căng thẳng kéo dài ở Đức với các vấn đề cư trú hợp pháp của tổ tiên người Thổ Nhĩ Kỳ.

Một cách hiểu đầy đủ hơn về nghĩa vụ của thuyết đa nguyên và tính bao hàm là cần thiết đối với sự lành mạnh của nền dân chủ. Đó là lý do tại sao cho đến nay, nền dân chủ là hệ thống không thể phủ nhận được và hầu như có lợi trong việc đảm bảo sự bảo vệ quyền con người và an ninh con người. Dân chủ phụ thuộc vào mối quan tâm và sự tham gia tích cực của những người được hưởng lợi. Được thông báo và có cách tiếp cận với kiến thức là điều kiện quyết định đối với sự tham gia có ý nghĩa của người dân trong một hệ thống dân chủ.

Chỉ những người có hiểu biết cơ bản về cách thức vận hành của hệ thống và có kiến thức về các cơ chế và các tổ chức trong một xã hội dân chủ thì mới có thể đóng góp và giúp ích cho xã hội. Truyền đạt thông điệp này là một trong các chức năng quan trọng nhất của giáo dục dân chủ mà mục tiêu là để đào tạo nên những công dân có trách nhiệm.

Chuyên đề này nhằm phác họa một bức tranh về nền dân chủ và quyền con người, để thấy rõ là dân chủ không phải là một thứ gì đó mà đạt được một lần và dành cho tất cả mọi người mà lại là một quá trình đòi hỏi việc hoạt động và cam kết lâu dài.

Dân chủ và an ninh con người

Chương trình nghị sự an ninh con người tập trung vào việc giành tự do không bị đe dọa xâm lăng tới cuộc sống hay mưu sinh của con người, đó là chính trị, xã hội hay kinh tế. Khái niệm tôn trọng quyền con người và tự do dân chủ cũng như trao quyền cho việc phát triển con người là điều không thể thiếu trong việc bảo vệ và tăng cường an ninh con người. Quá trình thúc đẩy quyền con người, phát triển con người và an ninh con người – ba khái niệm có liên quan mật thiết với nhau như là tầm nhìn cơ bản của một trật tự thế giới mới – có thể bắt nguồn từ những xã hội trong đó các giá trị dân chủ không chỉ được truyền bá mà còn được thực hiện.

Chỉ trong một nền dân chủ thì việc tôn trọng quyền con người thể hiện ở tự do thoát khỏi sợ hãi và các mối đe dọa đối với sự tồn tại cơ bản của một người; phát triển con người đặt ra yêu cầu về nguồn lực và tự do mà một người cần để phát triển tối đa tiềm năng của mình; an ninh con người đề cập đến tự do thoát khỏi nạn đói, chiến tranh, thảm họa sinh thái, sự sụp đổ của chính quyền và những trở ngại khác đối với một cuộc sống công bằng và đoàn kết với cơ hội công bằng cho tất cả mọi người.

Tóm lại, chỉ có sự tham gia công bằng, tự do và dân chủ vào đời sống chính trị, xã hội và kinh tế của một nhà nước hay một cộng đồng mới có thể tăng cường an ninh con người. Chỉ có đảm bảo đầy đủ các quyền con người, quản lý nhà nước có sự tham gia của người dân, pháp quyền, phát triển bền vững và tiếp cận công bằng đến các nguồn lực thì mới có thể đảm bảo để an ninh con người có thể chuyển từ một mô thức ngoại giao mới sang quá trình ra quyết định dân chủ và hợp tác quốc tế rộng rãi hơn…

2. ĐỊNH NGHĨA VÀ MÔ TẢ

Dân chủ là gì và dân chủ đã phát triển như thế nào?

Dân chủ là hình thức cai trị trong đó chính quyền nhà nước xuất phát từ nhân dân. Thuật ngữ “dân chủ” bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp cổ demos – có nghĩa là nhân dân – và kratos – có nghĩa là quyền lực. Các nguyên tắc dân chủ hiện đại dần được phát triển từ các phong trào tôn giáo của người theo thuyết Can-vin trong suốt thế kỷ XVII, đặc biệt là ở Scotland, nước Anh và Hà Lan những nơi mà cộng đồng bắt đầu hỗ trợ và chia sẽ không chỉ các ý tưởng tôn giáo mà còn các ý tưởng chính trị. Triết lý về tự do và công bằng cho tất cả mọi người đã xuất hiện và được tăng cường hơn nữa trong suốt thời kỳ Khai sáng để về sau trở thành những giá trị cốt lõi của dân chủ. Nhà nước dân chủ hiện đại đầu tiên được thành lập ở Mỹ, còn nước Pháp là nước châu Âu đầu tiên được thành lập dựa trên các nguyên tắc dân chủ sau Cách mạng Pháp. Sau năm 1945, dân chủ tự do mở rộng cả ở châu Âu và trên khắp thế giới, thường là sự thay thế cho chính quyền tập trung. Sau khi đánh bại chính phủ phát xít, dường như dân chủ đã vượt qua khủng hoảng trong thế kỷ XX. Quá trình chống lại chế độ thuộc địa khó khăn và lâu dài trong đó quyền tự quyết định được các nước phương Tây thừa nhận, cuối cùng cũng mang dân chủ đến hầu hết các thuộc địa cũ. Chế độ độc tài ở Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hy Lạp, Ac-ghen-ti-na và U-ru-guay tất cả đã trở thành các nước dân chủ trong vài thập kỷ trước. Với sự sụp đổ của Bức tường Beclin vào năm 1989 và sự sụp đổ của chế độ cộng sản ở Trung và Đông Âu thì dường như dân chủ đã thành công. Tuy nhiên, không phải tất cả những nước này, về mặt lý thuyết tán thành dân chủ như là một hình thức của chính phủ, hoàn toàn tôn trọng các nguyên tắc dân chủ hay dân chủ trong thực tiễn. Sự phát triển khá là nghịch lý này chứng tỏ rằng, việc tổ chức một cuộc tranh luận quan trọng về dân chủ và dân chủ hóa vẫn rất cần thiết.

Khái niệm về nền dân chủ của tôi là dưới chế độ dân chủ, kẻ yếu nhất nên có cơ hội giống như là kẻ mạnh nhất.

» Mahatma Gandhi 1948

Thật khó để đo được mức độ dân chủ một xã hội. Tuy nhiên, có một số yếu tố chính tạo thành nền tảng của mọi xã hội dân chủ.

Bình đẳng: Nguyên tắc bình đẳng có nghĩa là tất cả mọi người sinh ra đều bình đẳng, được hưởng các cơ hội bình đẳng và tham gia vào đời sống chính trị của cộng đồng cũng như là được quyền được đối xử công bằng trước pháp luật. Điều này bao gồm cả bình đẳng về xã hội và kinh tế giữa nam và nữ.

Quyền tham gia: Dân chủ sẽ vô nghĩa nếu như không có quyền tham gia. Quyền tham gia vào cộng đồng và các hoạt động chính trị là một điều kiện tiên quyết trong việc xây dựng một hệ thống dân chủ. Tuy nhiên, dân chủ đòi hỏi phải có sự tham gia, tuy nhiên đây là một khái niệm rộng hơn và không chỉ có ý nghĩa chính trị mà còn có ý nghĩa kinh tế và xã hội. Tuy vậy, chỉ mỗi quyền tham gia thôi cũng không thể đảm bảo cho dân chủ.

Quy tắc đa số và các quyền thiểu số: Mặc dù dân chủ trên định nghĩa là sự thống trị của nhân dân, nhưng trong thực tế, là sự thống trị của đa số. Điều này có nghĩa là đa số có nghĩa vụ với các quyền và nhu cầu khác nhau của các nhóm người thiểu số. Mức độ thực hiện nghĩa vụ này là một chỉ số cho việc tăng cường hơn nữa các giá trị dân chủ trong một xã hội.

Pháp quyền và xét xử công bằng: Dân chủ có nghĩa là ngăn ngừa môt cá nhân riêng lẻ hay một nhóm người nhỏ không được thống trị những người khác theo hình thức chuyên quyền. Pháp quyền đảm bảo rằng một nhà nước có trật tự pháp lý tự trị để đảm bảo bình đẳng trước pháp luật, hạn chế quyền lực của cơ quan công quyền và đưa ra cách tiếp cận công bằng đối với nền tư pháp độc lập và công bằng.

Cam kết về quyền con người: Chấp nhận rằng “tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng và tự do về nhân phẩm và các quyền” là nền tảng của một cộng đồng dân chủ hoạt động đúng chức năng. Một nhà nước dân chủ có nghĩa vụ phải bảo đảm việc tôn trọng, bảo vệ và thực hiện tất cả các quyền của con người để đảm bảo rằng công dân của nhà nước đó có thể sống “tự do không phải sợ hãi và tự do làm điều mình muốn.” Cùng với việc tôn trọng dân chủ, cần tập trung đặc biệt vào những quyền chủ yếu dành cho sự tham gia của người dân như là tự do hội họp, tự do ngôn luận, tự do tư tưởng, tôn giáo và tín ngưỡng. Tuy nhiên, chỉ có các quyền dân sự và chính trị không thể đảm bảo được hòa bình và an ninh con người. Chỉ khi các nhu cầu về văn hóa, xã hội và kinh tế cơ bản cũng được tính đến, thì một môi trường thuận lợi cho dân chủ có thể được thúc đẩy.

Thuyết đa nguyên chính trị: Thông thường, nhiệm vụ của các đảng chính trị là củng cố tính đa dạng của các ý tưởng và quan điểm và trình bày chúng trong cuộc tranh luận công khai. Chỉ có thuyết đa nguyên chính trị mới có thể bảo đảm được các kết cấu linh hoạt đủ để thích nghi với sự thay đổi các nhu cầu nhưng vẫn duy trì một nền tảng vững chắc cho việc quản lý dân chủ. Tuy nhiên, tự do chính trị cũng có thể bị sử dụng sai để tuyên truyền tư tưởng hận thù, kích động bạo lực và do vậy sẽ gây nên mối đe dọa tới xã hội và trật tự dân chủ. Thách thức là phải kiểm soát được các xu hướng như vậy một cách dân chủ mà không vi phạm tới tự do biểu đạt đồng thời bảo vệ được lợi ích của toàn xã hội. Ở một mức nào đó, dân chủ cũng cần phải tự bảo vệ.

Tuyển cử công bằng và tự do: Tuyển cử là tính chất duy nhất và cơ bản nhất của một nền dân chủ. Không có loại chế độ khác lại trao quyết định về việc lãnh đạo chính trị cho những người bị ảnh hưởng trước tiên của hệ thống chính quyền – đó là nhân dân. Trong mọi cuộc tuyển cử, người dân có thể trình bày ước muốn thay đổi cũng như sự bằng lòng của họ với các chính sách hiện tại và tham gia thường xuyên vào quá trình đánh giá. Tuy nhiên, lịch sử cho thấy không thể tự thấy được ai có khả năng tham gia và ai không có khả năng. Ví dụ, phụ nữ đã bị loại khỏi quá trình này trong một thời gian rất dài. Ở AppenzellInnerrhoden, một phần của Thụy Sĩ, một miền đất nổi tiếng về các kết cấu dân chủ phát triển cao, phụ nữ mới chỉ giành được quyền bầu cử vào đầu những năm 1990. Cần phải đảm bảo rằng quyền bầu cử có tính toàn cầu, tự do, công bằng, bí mật và trực tiếp.

Phân chia quyền lực: Phân chia quyền lực, một khái niệm được John Locke đưa ra (“Hai điều ước về Chính phủ” năm 1690) và được Charles de Montesquieu tiếp tục phát triển (“De l’esprit des lois” – “Linh hồn của pháp luật” năm 1748) trong đấu tranh chống lại nhà nước chuyên chế, là một nguyên tắc cơ bản của các nền dân chủ hiện đại. Theo nguyên tắc này, quyền lực nhà nước được chia thành các cơ quan hành pháp, lập pháp, và tư pháp đóng vai trò độc lập với nhau nhưng chịu trách nhiệm lẫn nhau và với nhân dân. Hệ thống kiểm tra và cân bằng này cung cấp các cơ chế kiểm soát đầy đủ và nhờ đó ngăn chặn việc lạm dụng quyền lực nhà nước.

Các lý thuyết về dân chủ

Thực tế dân chủ quá phức tạp đã sản sinh ra một loạt các lý thuyết và mô hình.

Sự khác biệt giữa các nhóm lý thuyết sẽ được đề cập do vai trò truyền thống của nó và mặc dù nó đã trở nên quá đơn giản trong các cuộc thảo luận hiện nay: đó là sự khác biệt giữa lý thuyết đồng nhất và cạnh tranh dân chủ. Nói ngắn gọn, khi coi dân chủ là cạnh tranh cho phép các quan điểm hợp pháp khác nhau cùng cạnh tranh (sự cạnh tranh các quan điểm thường đi cùng với các qui tắc đa số). Dân chủ đồng nhất xem xét sự đồng nhất giữa người cai trị và các quy tắc, phủ nhận sự tồn tại của những khác biệt hợp pháp khác cố gắng tìm kiếm cái mà Jean-Jacques Rousseau gọi là “volonté générale”, để sau đó được cho vào pháp luật.

Các hình thức dân chủ

Ngày nay, các nền dân chủ khác nhiều so với trong thiết kế và kết cấu của chúng. Sự khác biệt thông thường liên quan tới các nền dân chủ tự do giữa các mô hình dân chủ trực tiếp dân chủ đại diện.

Dân chủ trực tiếp là một hình thức của chính phủ, trong đó quyền được đưa ra các quyết định chính trị được thực hiện một cách trực tiếp dưới các thủ tục của quy tắc đa số. Hình thức này chỉ khả thi đối với các thực thể nhỏ. Do đó, không có hệ thống dân chủ hiện đại nào là nền dân chủ hoàn toàn trực tiếp, mặc dù hầu hết trong đó đều có các yếu tố dân chủ trực tiếp. Các cơ quan dân chủ trực tiếp là các tổ chức quốc hội, các sáng kiến lập pháp phổ biến, các cuộc triệu tập, các cuộc trưng cầu dân ý, v.v…

Nguồn: Tổ chức dịch vụ giáo dục UNESCO quốc tế về giáo dục công dân, hòa bình và quyền con người: http://www.dadalos.org/

Hình thức cơ bản thứ hai là nền dân chủ đại diện. Đây là một hình thức của chính phủ trong đó người dân thực hiện quyền giống nhau nhưng không phải là theo từng cá nhân mà thông qua các đại diện do họ chọn ra và chịu trách nhiệm với họ. Hai yếu tố cần thiết của nền dân chủ đại diện là sự tách rời những người thống trị và quy tắc thống trị và các lần tuyển cử định kỳ là phương tiện để kiểm soát những nhà thống trị bằng luật lệ. Dân chủ đại diện có liên quan đến hai hệ thống chính quyền cơ bản: dân chủ nghị viện và dân chủ tổng thống.

Dân chủ nghị viện: Dưới hình thức chính quyền này, nghị viện có vai trò trung tâm, thủ tướng hay người lãnh đạo nội các đứng đầu cơ quan hành pháp và phụ thuộc vào sự tin cẩn của nghị viện; người đứng đầu nhà nước thường có ít hay không có quyền lực hành pháp mà chỉ đóng vai trò đại diện.

Dân chủ tổng thống: Hành pháp là người đứng đầu nhà nước, người trực tiếp được dân bầu ra và không phụ thuộc vào sự tin cẩn của nghị viện.

Khi hai mô hình này trái ngược nhau, những sự khác biệt sau sẽ nảy sinh:

• Trong một hệ thống tổng thống, các cuộc tuyển cử riêng biệt được tổ chức cho chính phủ và hội đồng nghị viện, trong khi ở các nền dân chủ nghị viện thì một cuộc tuyển cử quyết định cả hai (mặc dù người đứng đầu nhà nước có thể được bầu riêng).

• Trong các hệ thống nghị viện, Chính phủ do nghị viện ủy quyền và nghị viện có thể triệu hồi. Khả năng này không được chấp nhận đối với các nghị viện trong các hệ thống tổng thống nhưng hệ thống tổng thống thường đưa ra các thủ tục buộc tội.

• Mặt khác, người đứng đầu nhà nước trong hệ thống nghị viện trong điều kiện nào đấy có thể giải tán quốc hội.

• Ở nhiều hệ thống nghị viện thì tư cách thành viên nghị viện là một điều kiện để có tư cách thành viên trong chính phủ, trong khi đó điều này lại không phù hợp trong hầu hết các hệ thống tổng thống.

• Nghị viện và chính phủ thường có liên kết chặt chẽ hơn trong các nền dân chủ nghị viện, trong khi đó ở các hệ thống tổng thống lại có sự phân chia quyền lực rõ ràng hơn. Tuy vậy, trong các hệ thống nghị viện, quyền lực hành pháp tự nó thường được phân chia một mặt giữa người đứng đầu nhà nước và mặt khác là thủ tướng chính phủ.

• Sáng kiến lập pháp trong dân chủ nghị viện hiểu theo nghĩa rộng là trách nhiệm của chính phủ.

• Các đảng, đặc biệt là các đảng đối lập đóng một vai trò mạnh hơn nhiều trong nền dân chủ đại diện.

Các hình thức dân chủ trong thực tế

Hầu hết các nền dân chủ đang tồn tại là sự kết hợp của những loại hình lý tưởng và có các yếu tố, đặc điểm của tất cả các hình thức dân chủ. Ngày nay, hình thức phổ biến nhất trong đa số các mô hình hỗn hợp là dân chủ nghị viện, với vai trò nổi bật của người đứng đầu nhà nước.

Ví dụ: Dân chủ Nghị viện là mô hình tồn tại dưới các hệ thống của Vương quốc Anh và hầu hết các nước Tây Âu; mặt khác, Hoa Kỳ là ví dụ nổi tiếng về dân chủ tổng thống. Tuy nhiên, thậm chí ở Tây Âu, các ví dụ về các mô hình riêng biệt cũng khá nhiều: gồm Thụy Sĩ, Pháp (dân chủ nửa tổng thống) và Bồ Đào Nha. Đặc điểm khác biệt này cũng có thể được áp dụng cho tất cả các nền dân chủ khác trên khắp thế giới, mặc dù chúng không nhất thiết sử dụng hết được những truyền thống giống nhau có nguồn gốc từ chủ nghĩa tự do.

3. QUAN ĐIỂM LIÊN VĂN HÓA VÀ CÁC VẤN ĐỀ TRANH CÃI

Dân chủ dưới nhiều hình thức, có nhiều hình thức thể hiện và được hiểu khác nhau giữa các nền văn hóa. Trong khi một số nền dân chủ tập trung vào việc phân chia quyền lực và thống trị bằng pháp luật, thì những nền dân chủ khác lại chủ yếu được xây dựng trên cơ sở khái niệm sự tham gia của người dân. Những khác biệt chủ yếu xuất phát từ sự ảnh hưởng khác nhau của các yếu tố chính cấu thành nền dân chủ.

Phần lớn sự phê bình trong bối cảnh này tập trung vào “đường lối ôn hòa của châu Âu” có liên quan nhiều tới tư tưởng chính trị, lý thuyết và thực tiễn về dân chủ. Tuy nhiên, bản thân thực tiễn dân chủ là tính đa nguyên. Có nhiều hình thức dân chủ tồn tại mà không phải chỉ tập trung ở châu Âu. Ví dụ, một nước cực nghèo và quá đông đúc như Bangladesh tham gia vào dân chủ công khai khi phải đương đầu với những cám dỗ hấp dẫn để lựa chọn các hình thức độc tài hơn; tuy nhiên nền dân chủ của nước này lại mang tính kết cấu và bản địa hơn là một sự áp đặt bên ngoài.

Không có gì cái gọi là một “nền dân chủ hoàn hảo”, cả ở Đông hay Tây bán cầu. Một số yếu tố hình thành nên dân chủ có thể được toàn thể mọi người trên thế giới thừa nhận các nền văn hoá khác nhau lại nhận thức khác nhau về tầm quan trọng và việc thực hiện chúng. Nhận thức của người phương Tây về dân chủ nói chung dựa trên quan niệm cá nhân những người có được tự do và tiếng nói tối đa trong một xã hội dân chủ. Việc nhấn mạnh quá mức các quyền dân sự và chính trị của mô hình này là một vấn đề đối với một vài nước khác.

Cuộc tranh luận về “các giá trị châu Á”

Trung Quốc là nước đề xướng mô hình xã hội gia trưởng và cổ đại dựa trên các khái niệm các quyền tập thể và phúc lợi xã hội, vốn rất khác so với khái niệm về các quyền cá nhân của dân chủ phương Tây. Các khái niệm này dựa trên quan điểm về các khái niệm truyền thống và hướng tới cộng đồng của sự lãnh đạo gia trưởng hơn là về ý tưởng tự do cá nhân tối đa. Thực vậy, hầu hết các nền dân chủ đều tồn tại ở đâu đó giữa những mức độ tự do cá nhân mở rộng tối đa này và một xã hội có trật tự tốt. Ví dụ, Canada có “chính phủ tốt, hòa bình và trật tự” như chủ đề hiến pháp của nước này trong khi nước Mỹ được thành lập trên nguyên tắc “sống, tự do và mưu cầu hạnh phúc”.

Các mô hình châu Á không nhất thiết phải mâu thuẫn với quyền tham gia của người dân và dân chủ. Các mô hình ở Đông Á như các mô hình áp dụng ở Singapore, Malaysia và trong một phạm vi nhỏ hơn một chút ở Nam Triều Tiên và Nhật Bản, xuất phát từ tư tưởng Khổng giáo và đòi hỏi phải có sự tham gia tích cực của người dân theo một nguyên tắc đạo đức và lý trí hành động vì điều tốt đẹp. Cuốn “Đại học” của Khổng tử thừa nhận rằng một cá nhân hài hòa sẽ dẫn tới một gia đình hài hòa, một gia đình hài hòa sẽ dẫn tới một cộng đồng hài hòa, một cộng đồng hài hòa sẽ sinh ra một chính sách có trật tự tốt, chính sách có trật tự tốt lại sinh ra một quốc gia hài hòa. Cái gọi là sự bất đồng trong các giá trị và các khái niệm về dân chủ giữa “châu Á” và “Tây phương” xuất phát từ cách hiểu sai về dân chủ và quyền tham gia của người dân. Thay vì phê bình chính sự dân chủ, nhà lãnh đạo và nhà triết học người Singapore Lý Quang Diệu và bài phê bình của những người khác có định hướng chống lại trật tự văn hóa và xã hội của Mỹ và một vài nước phương Tây khác.

Thử thách của dân chủ trong thế giới Hồi giáo

Việc xác định mối quan hệ giữa Đạo Hồi và xã hội dân chủ là vấn đề khó khăn đối với cả những tín đồ Hồi giáo và cả những người không theo Đạo Hồi. Dựa trên những tranh luận về hiểu biết về Đạo Hồi của quyền lực tối cao của chúa trời, các quan sát viên phương Tây quả quyết rằng Đạo Hồi và nền dân chủ không tương thích với nhau. Chúa trời là người có quyền lực chính trị duy nhất và tất cả các điều lệ cai quản cộng đồng tín đồ đều có nguồn gốc từ điều luật thiêng liêng của chúa trời. Nhận thức này là quá đơn giản bởi vì sự phân quyền không phù hợp với Đạo Hồi. Đạo Hồi và nền dân chủ đã được chứng minh là thực sự phù hợp với nhau, trong khi đó một vài quốc gia phương Tây cũng tỏ lòng tôn kính chính trị thần quyền. Mặc dù có sự phân cách giữa nhà thờ và nhà nước, Hoa Kỳ vẫn tuyên bố rằng Hoa Kỳ là một quốc gia do chúa tạo ra, là một phần kiệt tác của chúa trời. Tương tự như vậy, trong lời mở đầu của Hiến chương về quyền và tự do của người Canada – văn bản bảo hộ về quyền con người trong Hiến chương Canada – quy định: “Trong khi đất nước Canada được thành lập dựa trên nguyên tắc quyền tối cao của chúa trời và pháp quyền…”

Các quốc gia Hồi giáo có sự phân chia sâu sắc về nhận thức các cách tiếp cận hướng đến xã hội dân chủ. Phủ nhận dân chủ là điều phổ biến nhất ở các nước Trung Đông. Trong khi các nhà lãnh đạo phong trào Hồi giáo và nhiều học giả cho rằng Đạo Hồi và nền dân chủ tương thích với nhau, và họ cho rằng việc xây dựng các quy định thiêng liêng này tốt hơn là cách thức xã hội loài người truyền bá điều ngược lại. Quan điểm phản đối dân chủ cho rằng khái niệm chủ quyền nhân dân phủ nhận tín ngưỡng cơ bản của Đạo Hồi, đó là chủ quyền tối cao của chúa trời. Họ tin rằng khung lập pháp cơ bản là do Thánh Allah ban hành và không thể sửa đổi, chỉ đại diện của ngài mới có quyền thực thi luật của ngài. Cách tiếp cận truyền thống và thủ cựu này mâu thuẫn với các giá trị dân chủ cơ bản như sự cởi mở, thuyết đa nguyên, và sự phân quyền.

Tuy nhiên, mặc dù sự phân quyền là rõ ràng nhưng vẫn có những điển hình tốt đẹp về nền dân chủ trong thế giới Hồi giáo. Indonesia, đất nước có số lượng tín đồ Hồi giáo lớn nhất thế giới, là một xã hội dân chủ trẻ, đầy sức sống và nghị lực được thành lập theo cam kết về tính bao hàm (inclusion) và tính đa nguyên (pluralism). Ấn Độ, đất nước Hồi giáo đông dân thứ hai thế giới xây dựng xã hội dân chủ từ năm 1947. Bangladesh, đất nước có số người Hồi giáo lớn thứ tư thế giới là một nước dân chủ. Thực vậy, ba trong số bốn quốc gia Hồi giáo đông dân nhất thế giới là các nước dân chủ và đất nước Hồi giáo đông thứ ba thế giới, Pakistan, đã thiết lập kế hoạch quay trở về nền dân chủ. Cuối năm 2005, Nghị viện dân chủ đã được thành lập sau cuộc bầu cử ở Afghanistan, mà trước đây thuộc sự giám sát của Taliban bảo thủ và truyền thống với phương châm “quyền tối cao thuộc chúa trời” của người Hồi giáo.

Châu Phi là một ví dụ tiếp theo trong số các quốc gia có số đông dân số là người Hồi giáo áp dụng nhiều hình thức quản lý dân chủ khác nhau. Thực vậy, tại thời điểm viết bài này vào cuối năm 2005, hầu hết người Hồi giáo trên thế giới đều được sống tại các xã hội dân chủ hoặc các xã hội đang trong quá trình quá độ lên xã hội dân chủ. Chỉ tính riêng ở Nam Á và Đông Nam Á đã có hơn 500 triệu tín đồ Hồi giáo sống trong xã hội dân chủ tại Ấn Độ, Bangladesh, Afghanistan, Indonesia, Malaysia và Maldives. Đặc biệt ở Trung Đông, nơi có số lượng người theo Đạo Hồi ít hơn nhiều so với các nước châu Á còn lại thì người ta lại nhận thấy sự thiếu vắng của xã hội dân chủ. Một trong những viễn cảnh của sự dân chủ là hội nghị Shura, khái niệm Đạo Hồi trong việc quản lý công việc chung. Hội nghị yêu cầu rằng trong các công việc chung có ảnh hưởng tới đời sống của cả tập thể, do đó mọi người nên có đầy đủ quyền tự do ngôn luận. Tuy nhiên, Hội nghị Shura bị hạn chế bởi luật lệ của Thánh Allah, dẫn đến sự tham gia của Đạo Hồi khác với nền dân chủ theo quan niệm phương Tây.

Một vài điểm cần suy nghĩ thêm

• Mối quan hệ giữa đa số và thiểu số, đặc biệt việc bảo vệ nhóm thiểu số về mặt chính trị là một vấn đề quan trọng. Việc tổ chức các cuộc bầu cử tự do và công bằng trên cơ sở bầu cử đa số nghĩa là nhóm thiểu số thường bị gạt ra khỏi quá trình ra quyết định chính trị. Nhìn chung, nhóm thiểu số phải tuân theo quyết định của đa số. Do đó, nhóm thiểu số đòi hỏi sự bảo vệ đặc biệt để đảm bảo quyền lợi và sự công bằng trong việc đánh giá ý chí chính trị của họ.

• Xã hội dân sự đã trở thành một trong những chủ đề quan trọng trong các cuộc tranh luận và thực tiễn xã hội dân chủ. Xã hội dân chủ cần những con người tự do, năng động và có trách nhiệm. Bertolt Brecht đã từng mỉa mai rằng nếu chính phủ quá bất mãn với người dân thì nên giải tán dân chúng và bầu ra một cơ quan mới. Chỉ những công dân tự do và tích cực mới có thể thách thức chính phủ của họ và xây dựng chính phủ chịu trách nhiệm về các cam kết trước bầu cử.

• Các phương tiện truyền thông đại chúng tự do và độc lập đóng vai trò quan trọng trong mọi xã hội dân chủ. Ngày nay, việc kiểm soát các phương tiện thông tin đồng nghĩa với việc kiểm soát quá trình ra quyết định trong xã hội dân chủ. Các phương tiện truyền thông đại chúng đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống hàng ngày trong xã hội dân chủ. Các phương tiện này có thể là báo chí, ti vi, đài, hoặc ngành công nghiệp giải trí và tất nhiên là cả Internet. Các cá nhân, xã hội và cả nước phải có khả năng giao tiếp với nhau. Để quá trình ra quyết định của khu cử tri trở nên dễ dàng hơn, toàn bộ cử tri phải được thông báo về mục đích và mục tiêu của những người được bầu. Do đó, tự do ngôn luận là quyền con người cơ bản và nhạy cảm cần thiết cho việc thực hiện chức năng của một xã hội dân chủ chức năng.

• Mối quan hệ không thể tách rời giữa xã hội dân chủ và quyền con người. Đó là mối quan hệ chuyển từ sự tác động lẫn nhau đến đồng nhất. Theo đó, tất cả các quyền con người đóng vai trò quan trọng trong một xã hội dân chủ. Hệ thống pháp luật của một số quốc gia có sự phân biệt giữa quyền công dân và quyền con người, nghĩa là một vài quyền, đặc biệt là quyền chính trị nào đó chỉ đảm bảo giữa quyền lợi cho công dân và các quyền khác đảm bảo quyền lợi cho toàn bộ loài người.

Quyền con người chỉ có thể được đảm bảo thông qua một xã hội dân chủ chức năng, nhưng một mình xã hội dân chủ không thể đảm bảo vấn đề quyền con người và an ninh con người. Do đó, việc nhận thức vấn đề quyền con người là chỉ số đánh giá khả năng tồn tại của một xã hội dân chủ.

4. THỰC HIỆN VÀ GIÁM SÁT

Từ trước đến nay, chưa bao giờ tồn tại xã hội dân chủ hoàn hảo. Về một khía cạnh nào đó, các xã hội dân chủ hiện đại hoà nhập vào nhau, tất cả các yếu tố then chốt của xã hội dân chủ trong đời sống công cộng là thước đo về sự bình đẳng, không phân biệt đối xử và công bằng xã hội. Dân chủ là một quá trình tương tác, hoàn thiện và điều chỉnh liên tục giữa các nhu cầu cơ bản của xã hội và kết cấu xã hội sẵn có để phục vụ cho các nhu cầu đó.

Ở cấp độ khu vực, đã có nhiều cơ chế bảo vệ nguyên tắc dân chủ. Điển hình là Công ước châu Âu về quyền con người đã thành lập Tòa án thường trực châu Âu về quyền con người với cơ hội gửi đơn kiện chống lại các quốc gia thành viên vi phạm điều ước. Vì dân chủ là hình thức chính phủ duy nhất được xem xét trong Công ước nên nó cũng là hình thức duy nhất phù hợp với Công ước. Vào năm 1967, Đan Mạch, Na Uy và Thụy Điển đã quyết định nộp đơn kiện Hy Lạp sau khi chế độ quân đội hà khắc giành quyền kiểm soát đất nước này. Sau đó, Chính phủ Hy Lạp tuyên bố bãi ước điều ước này nhưng phiên tòa vẫn được tiếp tục và đã kết thúc bằng việc Hy Lạp phải rời khỏi Hội đồng châu Âu để tránh bị phế truất. Với sự tái thiết lập của một chính phủ dân chủ vào năm 1974, Hy Lạp đã gia nhập lại điều ước và phải trả bồi thường cho các nạn nhân của chế độ quân đội.

Rõ ràng là không phải tất cả các cơ chế đều có hiệu quả như các cơ chế do Hội đồng châu Âu thiết lập, nhưng cũng có một số tổ chức khác đang đấu tranh để bảo vệ dân chủ. Vào năm 1990, OSCE đã thành lập Văn phòng dành cho các cơ quan dân chủ và quyền con người (ODIHR) ở Vacsava, với nhiệm vụ là giúp đỡ các quốc gia thành viên của OSCE xây dựng, tăng cường và bảo vệ các cơ quan dân chủ. Văn phòng có trách nhiệm quan sát các cuộc tuyển cử quốc gia, do đó, bảo đảm việc tôn trọng các nguyên tắc dân chủ của các quốc gia thành viên OSCE.

Ở cấp độ quốc tế, Liên minh nghị viện quốc tế đóng một vai trò quan trọng. Liên minh này bao gồm nghị viện của các quốc gia có chủ quyền và với mong muốn thúc đẩy đối thoại và hợp tác giữa các dân tộc để tăng cường dân chủ trên toàn thế giới. Liên minh được thành lập vào đầu năm 1889 và cho đến nay vẫn là tổ chức thúc đẩy mạng lưới của các nghị viện quốc gia và tăng cường dân chủ.

Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc đưa ra một số chỉ số khách quan để đánh giá sự tiến bộ của dân chủ trong Báo cáo phát triển con người năm 2002. Những chỉ số này gồm:

• Ngày tuyển cử gần đây nhất;
• Số cử tri;
• Năm phụ nữ được quyền bầu cử;
• Các ghế trong nghị viện do phụ nữ nắm giữ;
• Số hội viên của Công đoàn;
• Các tổ chức phi chính phủ;
• Sự phê chuẩn của Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị;
• Sự phê chuẩn công ước của ILO về quyền tự do lập hội thương lượng tập thể.

Ngoài ra, một số chỉ số chủ quan như tự do dân sự và các quyền chính trị, tự do báo chí và trách nhiệm giải trình, ổn định chính trị và không có bạo lực, pháp quyền và chỉ số nhận thức về tham nhũng là những biện pháp hữu ích để đánh giá sự quản trị dân chủ. Tất cả các chỉ số này phản ánh mức độ, trong đó các yếu tố then chốt hình thành nên sự tương tác và phát triển dân chủ theo thời gian. Chúng đưa ra một cơ sở để so sánh chế độ dân chủ với các chế độ khác và đánh giá tiến trình hướng tới dân chủ, cũng như biện pháp đánh giá định tính và định lượng mức độ cải thiện đã đạt được hay các mối đe dọa mà một đất nước đang phải đương đầu.

Trong tất cả các nền dân chủ tiến bộ nhất, phổ thông đầu phiếu ở cấp độ quốc gia và địa phương là cơ chế giám sát mạnh nhất ở cùng với phương tiện truyền thông đại chúng độc lập và sự cảnh báo của xã hội dân sự. Sự thay đổi của các chương trình nghị sự chính phủ và các kết cấu nắm giữ quyền lực có thể là kết quả của lá phiếu phổ thông như vậy nhằm kiểm soát một cách độc lập mức độ thực hiện các cam kết do các đại diện được bầu một cách dân chủ đảm nhận.

Không phải tất cả các tiêu chuẩn dân chủ nói ở trên đều được toàn thể nhân dân trên thế giới đồng tình. Tuy nhiên, các tiêu chuẩn được nhất trí rộng rãi có thể đạt được là các tiêu chuẩn về quyền con người. Do vậy, bảo đảm quyền con người đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm dân chủ. Do đó, những nhà bảo hộ quyền con người thực sự là những nhà bảo lãnh dân chủ.

Việc thực hiện dân chủ trên khắp thế giới phụ thuộc vào mỗi cá nhân và tất cả mọi người cũng như các thể chế nhà nước và quốc tế nhằm thổi sức sống vào dân chủ và giúp dân chủ chống lại được với sự phát triển của chế độ độc tài. Để tận dụng được quyền bầu cử của mỗi người, quyền bày tỏ quan điểm và quyền tham gia vào đời sống chính trị và đưa ra quyết định đóng vai trò vô cùng quan trọng. Nói chung, việc tham gia vào một xã hội dân sự tích cực có ích cho dân chủ.

Giáo dục đóng vai trò chính trong quá trình này vì giáo dục mang lại kiến thức để giúp cho việc tham gia của người dân một cách hiệu quả và có thể thực hiện được ngay từ đầu. Dựa trên các thành tố từ cơ sở của quá trình xây dựng dân chủ mà đặt ra yêu cầu phải chú ý và tiếp tục phát triển hơn nữa nền dân chủ thịnh vượng và mang lại thành quả cho tất cả mọi người một cách công bằng và bình đẳng.

ĐIỀU NÊN BIẾT

1. KINH NGHIỆM TỐT

Trên đường hướng tới dân chủ

Vào tháng 02 năm 1990, trong một bài diễn thuyết lịch sử, Fredrik Willem de Klerk đã nói về việc kết thúc chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi và về một đất nước Nam Phi dân chủ. Chính sách của ông đã được xác định trong một cuộc trưng cầu dân ý, trong đó 70% dân số da trắng đã ủng hộ những cải cách của ông. Các cuộc tuyển cử dân chủ đầu tiên ở Nam Phi đã được tổ chức vào tháng 4 năm 1994 và vào tháng 5 năm 1994, Nelson Mandela đã trở thành Tổng thống da đen đầu tiên của Nam Phi. Một chương mới trong sự phát triển của đất nước đã được mở ra.

Tại Trung và Đông Âu: Trong những năm sau 1989, các nước theo mô hình cộng sản cũ đã trải qua một làn sóng dân chủ hóa. Các đảng dân chủ và tự do mới được hình thành ở Phần Lan, Bulgari, Cộng hòa Séc, Đông Đức, Hungary, Romania, Slovakia và một số các nước Cộng hòa Xô-viết, và một sự chuyển biến hòa bình, dân chủ đã bắt đầu thay đổi mỹ quan chính trị quốc gia của những nước này. Sau đó, các cuộc tuyển cử nghị viện và tổng thống dân chủ đã liên tục diễn ra theo hệ thống đa đảng. Sự thành công của các nền dân chủ mới phụ thuộc vào sự tồn tại của một xã hội dân sự sôi nổi với những công dân tích cực. Do đó, Hội đồng châu Âu đã tuyên bố năm 2005 là Năm giáo dục dân chủ công dân của châu Âu và một phần cùng với “Civitas” – một tổ chức do Mỹ tài trợ tham gia vào các chương trình lớn về giáo dục dân chủ, quyền con người và quyền công dân ở các trường học, ví dụ như ở Bosnia – Herzegovina.

Tại Chi Lê: Không giống như các nước Nam Mỹ khác, Chi Lê có lịch sử hơn 150 năm là một nước cộng hòa lập hiến với các chính phủ được bầu một cách dân chủ. Việc tái thiết dân chủ ở Chi Lê vào năm 1990, sau 17 năm quân đội thống trị dưới thời của Tướng Augusto Pinochet đã tạo ra sự thúc đẩy mới cho cuộc đối thoại dân chủ và hợp tác khu vực và quốc tế. Ngày nay, nước Cộng hòa Chi Lê đang củng cố nền dân chủ và tích cực thúc đẩy quyền con người và an ninh con người trên toàn khu vực.

Chế độ độc tài Ferdinand Marco của Phillipine đã kéo dài từ năm 1965 cho đến năm 1986. Vào năm 1986, Corazon Aquino đã trở thành Tổng thống và khôi phục lại các quyền tự do dân sự cơ bản (tự do ngôn luận, tự do hội họp, và tự do báo chí) – Phillippine đã mở đường cho việc thiết lập một nền dân chủ thực sự.

2. XU HƯỚNG

Sự gia tăng của các nền dân chủ

Theo Báo cáo an ninh con người năm 2005, việc giảm số cuộc chiến tranh và các mâu thuẫn dân sự trong những năm 90 đã xảy ra đồng thời với việc tăng gần một nửa số nền dân chủ. Điều này dường như củng cố quan niệm thông thường là các nền dân chủ thực sự hầu như không phải trải qua chiến tranh chống lại nhau và cũng có ít nguy cơ có nội chiến hơn. Tuy nhiên, việc tăng số lượng “các chế độ chuyên quyền”, các cơ chế không phải là dân chủ lẫn chuyển quyền cùng một lúc là một vấn đề cần lưu tâm. (Nguồn: Báo cáo an ninh con người 2005)

Sự tham gia chính trị của phụ nữ

Ngày nay, sự tham gia vào đời sống chính trị của phụ nữ vẫn còn ở mức hết sức không cân đối so với nam giới, mặc dù phụ nữ chiếm hơn một nửa dân số thế giới. Sự không cân bằng này rõ ràng cho thấy những thiếu hụt của một số thể chế quốc gia được coi là dân chủ.

Việc đưa ra các chỉ tiêu để khuyến khích và ủng hộ quyền tham gia của phụ nữ vào đời sống chính trị đã từng được sử dụng như một công cụ để cải thiện tình hình, được thể hiện ở tính đại diện không cân xứng và địa vị bất bình đẳng giữa nam và nữ trong các nghị viện quốc gia.

Phụ nữ trong nghị viện

• Số lượng nhà nước tối cao có nghị viện đã tăng gấp 7 lần.
• Phần trăm các nghị sĩ là phụ nữ trên khắp thế giới đã tăng hơn 40% trong 10 năm qua.
• Nếu như tỷ lệ gia tăng hiện tại tiếp tục lớn lên, thì đến năm 2040 sẽ có sự cân bằng giới trong tất cả các nghị viện.
• Số các nghị viện với thành viên là nữ giới ít hơn 10% đã giảm một cách đáng kể từ 63% trong năm 1995 xuống còn 37% hiện nay.
• Thụy Điển có sự hiện diện của phụ nữ cao nhất với 45,3% các nghị sĩ là phụ nữ (vào tháng 10 năm 2005), tiếp theo là Na Uy, Phần Lan, Đan Mạch và Ireland. Ngược lại, phụ nữ vẫn hiện diện rất ít ở các nước Ả-Rập, như vào tháng 10 năm 2005, tỷ lệ nữ trung bình ở các hạ viện trong khu vực là 8,2%. Trong khi con số này bằng một nửa trung bình toàn cầu, trong thực tế, con số này đã tăng gấp đôi tỷ lệ của 8 năm về trước. (Nguồn: Liên minh nghị viện Thế giới 2006. Phụ nữ hoạt động chính trị: hồi tưởng lại 60 năm trước)

Dân chủ trực tuyến

Khi việc sử dụng mạng Internet bắt đầu phổ biến vào giữa những năm 1990, giấc mơ về một thế giới tốt hơn được một số người ủng hộ – một thế giới, trong đó, mọi người có thể tham gia vào các quá trình ra quyết định chính trị bằng cách sử dụng thông tin trực tuyến, một thế giới gần với các lý tưởng dân chủ Hy Lạp hơn bao giờ hết. Tuy nhiên, trong thực tế, những giấc mơ này chưa bao giờ trở thành sự thật. Thực vậy, người ta thậm chí còn nghi ngờ là nó sẽ mãi mãi không bao giờ trở thành sự thật.

Tính sẵn có của Internet không phải là một sự thay thế của các kết cấu dân chủ và tự nó không tạo ra nhận thức về chính trị – nhưng nó vẫn có những mặt thuận lợi. Người ta có thể tìm kiếm và lấy thông tin trên khắp thế giới trong thời gian thực tế, và điều quan trọng hơn nhiều, đó là thông tin có thể được trao đổi và sử dụng để hình thành các kết cấu tổ chức thông tin. Lấy các cuộc tuyển cử Tổng thống Mỹ làm ví dụ. Ở một số tiểu bang (còn được gọi là “các tiểu bang dao động) kết quả bầu cử là hoàn toàn mở. Nhân tố chính là số phiếu bầu cho ứng viên Ralph Nader của Đảng Xanh. Bản thân Nader đã không có cơ hội được bầu vào chức tổng thống và về sau khi được hỏi, phần lớn dân chúng đã bầu cho Nader đều thích ứng viên Al Gore của Đảng Dân chủ hơn George Bush của Đảng Cộng hòa; tuy nhiên, họ đã không được hỏi. Điều này dẫn tới một tình huống rất lạ trong tất cả các tiểu bang dao động, cư tri của Nader đã miễn cưỡng góp phần tăng cơ hội cho George Bush. Để tránh tác động không mong muốn này, trong việc đảm bảo hệ thống bỏ phiếu kín, một người dùng mạng Internet đã có một ý tưởng đáng ghi nhớ là tạo ra các trang Internet dựa trên phần mềm loại Napster cho phép dân chúng trao đổi các phiếu bầu của họ. Một cử tri của Nader từ một tiểu bang dao động có thể trao đổi lá phiếu của mình với một cử tri của Gore sống ở một tiểu bang của Bush; cử tri của Nader sẽ bỏ phiếu cho Gore trong một bang nơi ông ta thực sự có cơ hội chiến thắng, trong khi cử tri của Gore sẽ bỏ phiếu cho Nader ở một bang mà Gore sẽ không có ảnh hưởng gì cả. Mặc dù hệ thống này có vẻ hơi phức tạp (và không được coi là hợp pháp ở tất cả các tiểu bang của Mỹ), nhưng hiện tượng “trao đổi phiếu” là một ví dụ tuyệt vời cho các tiềm năng dân chủ mới thông qua các tổ chức công dân không chính thức.

Điều này không chỉ dừng lại ở các ví dụ. Hoạt động của các tổ chức phi chính phủ trên khắp thế giới ngày càng tăng nhờ vào thông tin liên lạc trực tuyến trên cơ sở thiết lập các đường dẫn giữa các phong trào trên tất cả mọi miền của thế giới. Các chiến dịch có thể có nhiều người tham gia hơn bao giờ hết, huy động các hình thức hợp tác định hướng mới về các vấn đề xuyên quốc gia.

Các chế độ chuyên chế chỉ có các biện pháp hạn chế để ngăn chặn việc trao đổi các ý tưởng “mang tính cách mạng” trên mạng. Cá nhân có thể biểu đạt quan điểm của họ một cách dễ dàng hơn và phổ biến quan điểm đó lên mạng, do vậy sẽ được nhiều người cùng ý kiến hỗ trợ.

Có nhiều tiềm năng dân chủ mới nhưng cũng có các nguy cơ mới. Sự thiếu hiểu biết về chính trị và các kết cấu dân chủ trong thế giới ngắt mạng (offline) cũng được phản ánh trên thế giới nối mạng (online).

Hiện nay, gần 400 triệu người trên khắp thế giới đã quen với việc sử dụng mạng Internet. Vẫn còn 5.8 tỷ người chưa sử dụng Internet. Cái được gọi là thế giới số được phân chia theo các nước phát triển và đang phát triển (cũng như giữa các khu vực nông thôn và thành thị trong các nước phát triển) có ảnh hưởng sâu sắc tới mọi mô hình dân chủ – nếu phần lớn dân số là những người không biết gì về máy tính thì điều đó có thể không dễ dàng gì, thậm chí không thể cùng tham gia vào các hoạt động trực tuyến được.

Những thách thức dân chủ không chỉ là về việc bảo đảm tiếp cận mà còn cả về nội dung nữa. Ví dụ, tên phân biệt chủng tộc Ku-Klux-Klan đến từ Mỹ khẳng định rằng vì có mạng nên số thành viên của hội cũng tăng đáng kể và trình độ tổ chức cũng tiếp tục tăng. Ở Pháp, cổng mạng “Yahoo!” bị kiện vì đã đưa ra những hình ảnh gợi nhớ về Tân đảng quốc xã lên các trang bán đấu giá – thế nhưng những hành động này lại được thực hiện ở Mỹ, nơi mà hành vi này không bị coi là bất hợp pháp. Trong khi đó “Yahoo!” tuyên bố sẵn sàng giám sát và ngăn cấm những hành động này trên cơ sở tự nguyện.

Dân chủ là một quá trình phức tạp, và để hoạt động một cách phù hợp, dân chủ đòi hỏi phải có sự cam kết hoàn toàn của chúng ta. Mạng Internet có thể là một phương tiện truyền thông nhưng nó sẽ không bao giờ là phương tiện thay thế cho việc thiếu cam kết trong thế giới không trực tuyến (offline).

Toàn cầu hóa và dân chủ

Thông thường, quyền tham gia chính trị có đường ranh giới phân chia tại các đường biên giới quốc gia, và các quyết định ảnh hưởng tới cuộc sống của người dân được thực hiện ở các vùng lãnh thổ cụ thể.

Trong thời đại toàn cầu hóa, nhiều quyết định và kết quả của các quyết định đó đã vượt ra ngoài lãnh thổ quốc gia. Hơn nữa, những tổ chức toàn cầu có sức mạnh mới như các công ty đa quốc gia và các tổ chức quốc tế có trách nhiệm đối với những thay đổi sâu rộng về kinh tế, xã hội trong thế giới của chúng ta.

Sự thiếu vắng dân chủ trong thế giới toàn cầu hóa, khi mà việc ra quyết định nằm trong tay của các lực lượng kinh tế hay các tổ chức phản dân chủ quyền lực được sự hưởng ứng của một trong những phong trào xã hội quốc tế có quy mô lớn nhất trong thời gian gần đây đó là phong trào chống lại quá trình toàn cầu hóa. Phong trào chống lại quá trình toàn cầu hóa xuất hiện vì các mục đích khác nhau gồm bảo vệ môi trường, giảm nợ, quyền của động vật, bảo vệ trẻ em, chống lại chủ nghĩa tư bản, hòa bình và quyền con người. Điểm chung của các phong trào này là ở sự cảm nhận rằng thế giới đã toàn cầu hóa nhưng đang thiếu vắng một diễn đàn dân chủ. Phương thức tham gia các chiến dịch này là các cuộc biểu tình của quần chúng. Lần đầu tiên, cuộc biểu tình gây sự chú ý của các phương tiện truyền thông đại chúng quốc tế là vào năm 1999 khi 100.000 người biểu tình đã diễu hành trong buổi khai mạc lễ kỷ niệm cuộc họp bộ trưởng lần thứ 3 của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) ở Seattle. Về sau, các cuộc biểu tình khác đã diễn ra tại các cuộc họp của Ngân hàng thế giới và Quỹ tiền tệ thế giới (IMF) ở Washington, D.C., Diễn đàn kinh tế thế giới ở Davos (Thụy Sĩ), cuộc họp thượng đỉnh của Liên minh châu Âu ở Gothenburg (Thụy Điển) và tại cuộc họp thượng đỉnh của khối các nước G8 ở Genoa (Ý).

Trong khi phần lớn những người phản đối là phi bạo lực, cũng có phái những người phản đối cấp tiến đã kích động bạo lực tại các cuộc biểu tình bằng cách phóng tên lửa hay phá hủy tài sản. Họ chuyển hướng tập trung vào chương trình nghị sự của phong trào bằng việc chú ý đến phương tiện truyền thông đại chúng nói về chính bản thân họ, điều mà nhiều người cho là đáng tiếc. Do đó, vào tháng 02 năm 2001, các nhà hoạt động chính trị đã tổ chức diễn đàn xã hội thế giới đầu tiên tại Porto Alegre, Brazil như là một sự thay thế cho các cuộc biểu tình quần chúng dễ bùng nổ. 60.000 người đã tham gia vào Diễn đàn mà sau đó đã trở thành một sự kiện hàng năm, để thảo luận về những mô hình thay thế cho chủ nghĩa tư bản toàn cầu chống lại chủ nghĩa quân phiệt và ủng hộ hòa bình và công bằng xã hội dưới khẩu hiệu “Một thế giới khác có thể tồn tại”.

Để thực hiên quyền được lập hội, xã hội dân sự đã đưa ra một cuộc tranh luận công khai về quản trị toàn cầu dân chủ, dân chủ hóa các mối quan hệ kinh tế toàn cầu và quyền tham gia của xã hội dân sự trong các thiết chế quốc tế. Phong trào kêu gọi sự quan tâm tới nguy cơ thường xuyên của chủ nghĩa tự do kinh tế làm ảnh hưởng đến nền tảng riêng của nó đối với các quyền tự do dân sự và chính trị bằng việc chế nhạo tầm quan trọng của các quyền kinh tế và xã hội.

Mặc dù những thay đổi của hoàn cảnh, trong đó có việc đưa ra quyết định mang tính quốc tế và phương thức mới của sự tham gia dường như là những giấc mơ xa vời. Các bên tham gia toàn cầu đang ngày phải có trách nhiệm với những gì mình làm, do sự quan tâm của quần chúng ngày càng tăng và họ buộc phải nghĩ về các cách thức mới của tính đại diện dân chủ, tính minh bạch và trách nhiệm giải trình.

Thiếu dân chủ trong các tổ chức quốc tế, các tập đoàn đa quốc gia và các tổ chức phi chính phủ

Vai trò của nhà nước ở cấp độ khu vực và toàn cầu đang thay đổi. Các tổ chức quốc tế, các tập đoàn đa quốc gia (MNCs) và các tổ chức phi chính phủ ngày càng tham gia nhiều hơn vào các hoạt động chính trị thế giới. Các quyết định và quy định của họ có ảnh hưởng tới các chính sách của nhà nước và cuộc sống của hàng triệu người. Do đó, một trong những câu hỏi quan trọng cần phải được trả lời là: các thể chế nhà nước và phi nhà nước dân chủ/ không dân chủ như thế nào? Tìm ra câu trả lời cho câu hỏi này có nghĩa là phải tìm hiểu thực tiễn và chính sách cũng như các quy trình ra quyết định của mọi tổ chức quốc tế, các công ty đa quốc gia và các tổ chức phi chính phủ đã tham gia và đánh giá liệu các nguyên tắc dân chủ như trách nhiệm giải trình, tính hợp pháp, quyền được tham gia, tính đại diện và tính minh bạch có được thực hiện hay không. Những đề xuất cho việc dân chủ hóa các thể chế này được thảo luận rộng rãi. Điển hình là: cải cách của Hội đồng Bảo an; sự ra đời của Hội Nhân dân toàn cầu và một hệ thống ra quyết định hiệu quả và dân chủ hơn của các tổ chức WTO, IMF và Ngân hàng Thế giới; thành lập một nghị viện cho tổ chức WTO; và giới thiệu các quy tắc ứng xử và quy tắc đạo đức cho các tổ chức phi chính phủ và các công ty đa quốc gia.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s