Tống Văn Công : Chúng ta đang khủng hoảng văn hóa

Tống Văn Công :

Chúng ta đang khủng hoảng văn hóa

Tiếp theo bài viết “Vì đâu nên nỗi” của Lữ Phương, tác giả Tống Văn Công “xin hưởng ứng bằng những ghi chép điều mình quan sát được”.

I.  ” VÌ ĐÂU NÊN NỖI ? “

Hiện nay, cả xã hội đang hết sức bức xúc trước tình trạng đạo đức băng hoại. Nhà thơ Đỗ Trung Quân viết : “Làm từ thiện cũng thích nói dối ; Lu loa trên truyền thông với gương mặt của ‘con giả vờ’ “. Giáo sư Tương Lai cho rằng quốc nạn tham nhũng và nhiều vấn đề xã hội nghiêm trọng khác không nguy hại bằng thói đạo đức giả. Giáo sư đưa ra phương thuốc của cố Thủ tướng Phạm văn Đồng đã cho từ năm 1999 : “Tình hình nguy kịch không thể coi thường… Cần thấy hết tình hình rút ra kết luận nghiêm khắc với ý chí cách mạng tiến công “. Rất tiếc, cụ Đồng không cho biết cần phải tiến công vào đâu ! Nhà văn Võ thị Hảo đi ” Tìm thủ phạm ‘ám sát’ văn hiến “, đã nhận diện được : ” Với cây quyền trượng trong tay, những người lãnh đạo có thể xây dựng văn hiến, hoặc nhanh chóng ám sát văn hiến “. Mới đây, nhà nghiên cứu Lữ Phương có bài viết “Vì đâu nên nỗi? Tác động văn hoá của ” đổi mới” xét như một mô thức phát triển “, đã phân tích sâu sắc “cái mô thức mệnh danh “đổi mới” nói trên rõ ràng đã không còn phù hợp nữa… mô thức đó cũng tạo ra quá nhiều hỗn loạn và mất mát trong lĩnh vực tinh thần, phá vỡ lòng tin của con người về những giá trị nhân văn phổ biến, về niềm tự trọng dân tộc chính đáng, xâm phạm đến lợi ích tối thượng của quốc gia1. Ông cho rằng có thể bị cho là động đến vấn đề nhạy cảm, nhưng “nếu không dấy lên được một phản ứng thức tỉnh” thì có “nguy cơ rơi vào một hình thức lệ thuộc kiểu thực dân mới nào đó về văn hoá, hoặc một cái gì tương tự tinh vi hơn, không thể loại trừ là không xảy ra “. Nhận thức sự hệ trọng của điều ông cảnh báo, tôi xin hưởng ứng bằng những ghi chép điều mình quan sát được.

Nước ta đang trong tình trạng khủng hoảng văn hoá. “Văn hoá biểu hiện trong lý tưởng sống, trong các quan niệm về thế giới và nhân sinh, tín ngưỡng, đạo đức, trong lao động và đấu tranh, trong tổ chức đời sống, tạo dựng xã hội, thể hiện lý tưởng thẩm mỹ. Có thể tìm thấy biểu hiện của văn hoá trong các phương thức và công cụ sản xuất, phương thức sở hữu, các thể chế xã hội, phong tục tập quán, giao tiếp giữa người và người, trong trình độ học vấn và khoa học kỹ thuật, trong trình độ sáng tạo và thưởng thức văn học nghệ thuật ” (Từ điển Bách khoa Việt Nam). Cuộc khủng hoảng văn hoá bắt đầu từ sau ngày thống nhất nước nhà năm 1975, khi mọi người dân thất vọng vì những lý tưởng cao đẹp hoà bình, thống nhất, độc lập, tự do, hạnh phúc, hoà giải, hoà hợp dân tộc đã không được như mong muốn.

Với đường lối tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội, Nhà nước chuyên chính vô sản đã thực hiện cải tạo xã hội chủ nghĩa toàn diện về kinh tế, văn hoá, xã hội. Hàng vạn cán binh chế độ Sài Gòn cũng phải tập trung cải tạo. Cuộc xáo động quá lớn đã xua hàng triệu người, từ những nhà tư sản dân tộc, tiểu thương, tiểu chủ, cho đến những người dân cày xưa kia bom đạn không đẩy nổi họ rời mảnh ruộng quê, vậy mà nay cũng kéo nhau ùn ùn vượt biển. Tiếp theo đó, 2 cuộc chiến biên giới Tây Nam và phía Bắc, thúc đẩy nhanh cuộc khủng hoảng toàn diện trùm lên đất nước. Các văn kiện của Đảng cộng sản gọi đó là “khủng hoảng kinh tế – xã hội “. Lạm phát ba con số. Cả nước nhai bo bo. Truyện tiếu lâm mới, ca dao mới lan tràn, ông Trần Ta-bit đã sưu tầm thành một tập sách. Xin nhắc lại mấy câu :

” Tông Đản là chợ vua quan.
Nhà thờ là chợ trung gian nịnh thần,
Bắc Qua là chợ thương nhân,
Vỉa hè là chợ nhân dân anh hùng
.

Và :

” Bác Hồ chết nhằm ngày trùng,
Cho nên con cháu dở khùng dở điên.
Thằng khôn thì đã vượt biên ;
Những thằng ở lại toàn điên với khùng “
.

Các nhà văn đã sớm thổ lộ tâm tư dằn vặt. Chế Lan Viên nhận rằng niềm tin của mình là “Bánh vẽ”. Nguyễn Đình Thi thấy mình vướng nhiều ” Đồ bỏ “. Nhà thơ trẻ Phạm thị Xuân Khải viết Mùa xuân nhớ Bác đăng trên báo Tiền Phong :

” Có mắt giả mù, có tai giả điếc.
Thích nghe nịnh hót, ghét bỏ lời trung,
Trấn áp đấu tranh, dập vùi khốn khổ,
Thoái hoá, bê tha khi dân, nước gian nan “…

Đại hội 6 của Đảng quyết định Đổi mới, bắt đầu là đổi mới tư duy và trước hết là đổi mới tư duy kinh tế. Sau đó, tuy có nói phải đổi mới toàn diện nhưng từ năm 1991 đã bị chựng lại sau khi Liên Xô và Đông Âu sụp đổ.

Vượt qua những cấm kỵ của nguyên lý kinh tế xã hội chủ nghĩa (chấp nhận kinh tế thị trường ; để nhiều thành phần kinh tế cùng tồn tại ; thực hiện khoán 100 trong nông nghiệp…) nền kinh tế vượt qua khủng hoảng, phát triển nhanh chóng. Nhân dân vui mừng, phấn khởi. Nhưng do đổi mới không đồng bộ, cho nên các căn bệnh của khủng hoảng văn hoá vẫn âm ỉ không hề dứt. Chính trị chậm đổi mới, mâu thuẫn tăng lên, khiến cho khủng hoảng văn hoá bùng phát. Tham nhũng từ là “quốc nạn” đã trở thành “ung thư”. Lý tưởng xã hội chủ nghĩa làm bình phong cho “lý tưởng kiếm tiền “. “Mình vì mọi người” trở thành ” tất cả vì mình “. Niềm tin giả vờ. Dân chủ, tự do, công bằng cũng đều giả vờ. Đày tớ của nhân dân là những kẻ hành dân. Một dân tộc từng có câu châm ngôn cao cả ” Thương người như thể thương thân “, nhưng tháng 9 năm 2010, Quỹ từ thiện Anh và Viện Gallup xếp hạng chỉ số thiện nguyện của Việt Nam đứng hạng thứ 138 trên 153 quốc gia (vẫn còn vinh dự là đứng trên nước Trung Hoa của hiền triết Khổng Khâu từng dạy lấy chữ nhân làm đầu !). Sau vụ buôn lậu, ăn cắp của nhân viên Việt Nam Airlines, người Nhật chửi rủa người Việt Nam là “bọn dòi bọ “. Các nhà hàng Singapore ở phòng ăn buffet chỉ thông báo bằng tiếng Việt : “Xin lấy thức ăn vừa đủ !”.

Bạn bè Nhật Bản và khách nước ngoài đã từng chứng kiến những người Việt Nam lao vào giành giật, giẫm đạp nhau, gây ra “thảm hoạ hoa Anh đào”. Mới đây, sau lễ hội 1000 Thăng Long, khắp Hà Nội là những bãi rác khổng lồ, nhà văn Nguyên Ngọc viết : “Không khác nhau giữa cái diêm dúa, phô trương, ồn ĩ, xa xỉ, phản cảm, cả vô cảm nữa (trước đại lũ miền Trung ) của lễ hội… với cái bừa bãi xấu xa đáng buồn ngay sau lễ hội. Cái này chỉ là tiếp tục logic của cái kia “.

Nhà thơ Trần Ái Dân viết về sa đoạ đạo đức :

” Thời buổi thế này là thế nào hả trời,
Làm xịt lốp xe, đinh rải đầy đường sá.
Giữa phố đông, người rạch mặt người.
Khách tàu hỏa tha hồ ăn đá.

“…

” Đến cục cứt cũng là cứt rởm.
Nông phu phải miết tay, phải ngửi kiểm tra.
Thời buổi thế này là thế nào hở trời,
Trò giữa lớp phang thày ; Con nện cha trước bàn thờ tổ “
“…

” Xương trâu bò thế xương liệt sĩ.
Trâu bò lên ngôi Tổ quốc ghi công “

Có người lo lắng viết : “Vô đạo đức đang trở thành dân tộc tính “. Tháng 9 năm 2010, trong lễ trao giải cuộc thi “Văn học tuổi 20″ ở thành phố Hồ Chí Minh, nhà văn trẻ Hải Miên đoạt giải 3, đã phát biểu như sau :

Chúng ta đang sống trong một thời đại đổ vỡ, nơi khủng hoảng những giá trị, những niềm tin va đập không ngừng, cùng những cách nhìn về xã hội Việt Nam trong giai đoạn những giá trị chuẩn mực thì đã cũ, còn những giá trị mới thì chưa hình thành. Sống trong giai đoạn như thế đôi khi có cảm giác không còn điều gì thiêng liêng, nguyên vẹn và có cảm giác đau đớn. Tôi nương vào chữ để mở cửa thoát hiểm cho mình “.

Có lẽ đó cũng là tâm trạng của số đông người trẻ tuổi Việt Nam có tri thức, có lương tri. Những người lãnh đạo xa cuộc sống, lúc nào cũng nói to về lòng tự hào, về phẩm chất anh hùng của dân tộc từ xa xưa rất cần lắng nghe, để biết phải làm gì hòng cứu nguy cho phẩm chất Việt Nam.

Tại sao người Việt Nam sa doạ đến như vậy ? Engels, trong lời tựa cho bản Tuyên ngôn của đảng cộng sản xuất bản bằng tiếng Đức năm 1883, đã viết :

Tư tưởng cơ bản và chủ đạo của bản Tuyên ngôn là: Trong mỗi thời đại lịch sử, sản xuất kinh tế và cơ cấu xã hội – cơ cấu này tất yếu phải do sản xuất kinh tế mà ra – cả hai cái đó cấu thành cơ sở của lịch sử chính trị và lịch sử tư tưởng của thời đại ấy “.

Nhiều luận điểm trong Tuyên ngôn, sau đó chính Marx và Engels cho rằng đã lỗi thời, tuy nhiên cái “tư tưởng cơ bản” nói trên vẫn còn nguyên giá trị, nó cho ta hiểu rằng, nền kinh tế thị trường phát triển đòi hỏi phải có một cơ cấu xã hội tương ứng. Nếu nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung tương thích với cơ cấu chính trị chuyên chính vô sản, nhà nước toàn trị, thì nền kinh tế thị trường đòi hỏi phải có nhà nước pháp quyền (với tam quyền phân lập chứ không phải quyền lực thống nhất, phân công ba quyền, dưới sự lãnh đạo của Đảng), phải xây dựng xã hội công dân, thực hiện tự do, dân chủ, nhân quyền.

Do cố giữ những điều phi lý, cố tìm đường đi “chưa từng có tiền lệ ” mà lớp trẻ thông minh, có học, nhận ra những điều nhà cầm quyền cho rằng thiêng liêng cao cả, khi đặt vào thực tế cuộc sống sẽ hiện ra là giả dối. Giáo sư Tương Lai chỉ mới nói tới cái giả dối ” thứ cấp “, chứ chưa phải cái gốc, mẹ đẻ của mọi thứ giả dối. Đó là :

– Nói chúng ta kiên trì chủ nghĩa xã hội, nhưng ai cũng thấy chủ nghĩa tư bản hoang dã đang lồ lộ, ngang nhiên.

– Nói giai cấp công nhân lãnh đạo cách mạng, nhưng chính người công nhân cũng không thể tin được, bởi vì họ nhận rất rõ thân phận mình, đi tìm nơi xin được việc làm đã khó, khi có việc làm rồi thì nhận đồng lương chết đói, muốn đình công để đòi hỏi quyền lợi thì không thấy một tổ chức đủ tin cậy để mà gửi gắm, tự tổ chức đình công bị coi là bất hợp pháp !

– Nói đảng viên là những người lo trước thiên hạ và vui sau thiên hạ, nhưng sờ sờ trước mắt nhân dân là họ vui trong nhà chưa đủ, còn vui thâu đêm ở các nhà hàng bia ôm.

Có lẽ người nói về cái giả dối “gốc” sâu sắc nhất là nhà văn Nguyễn Khải, đảng viên 60 tuổi đảng, nhà văn được Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt đầu , trong tùy bút chính trị cuối cùng ” Đi tìm cái tôi đã mất ” :

Và nói dối, nói dối hiển nhiên, không cần che đậy. Vẫn biết nói dối như thế sẽ không thay đổi được gì, vì không một ai tin, nhưng vẫn cứ nói. Nói đủ thứ chuyện, nói về dân chủ và tự do, về tập trung và dân chủ, về nhân dân là người làm chủ của đất nước còn người cầm quyền chỉ là nô bộc của nhân dân. Rồi nói về cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, về lý tưởng và cả quyết tâm đưa đất nước đi lên chủ nghĩa cộng sản. Nói dối lem lém, nói dối lì lợm, nói không biết xấu hổ, không biết run sợ, vì người nghe không có thói quen hỏi lại, không có thói quen lưu giữ các lời giải thích và lời hứa để kiểm tra. Hoặc giả hỏi lại và kiểm tra là không được phép, là tối kỵ, dễ gặp tai hoạ, nên không hỏi gì cũng là một phép giữ mình “.

Làm gì để không còn những cái giả dối mà nhà văn Nguyễn Khải đã nhận ra ?

 

II. KHÔNG PHẢI LỦNG CỦNG MÀ LÀ ĐẶT Ý THỨC HỆ TRÙM LÊN VĂN HOÁ.

Ông Trần Trọng Tân, nguyên Trưởng ban tuyên giáo trung ương, ngày 8 – 10 – 2010, có bài viết trên Tuần Việt Nam :” Định nghĩa văn hoá trong dự thảo Cương lĩnh lủng củng “. Ông nhắc lại Nghị quyết 5 của Ban chấp hành Trung ương Đảng, Khoá 8, ngày 16-7-1998 định nghĩa nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc có nội dung :

Tiên tiến là yêu nước và tiến bộ mà nội dung cốt lõi là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội theo chủ nghĩa Marx – Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nhằm mục tiêu tất cả vì con người, vì hạnh phúc và phát triển phong phú, tự do toàn diện của con người trong mối quan hệ hài hoà giữa cá nhân và công đồng, giữa xã hội và tự nhiên. Tiên tiến không chỉ về nội dung tư tưởng mà cả trong hình thức biểu hiện, trong các phương tiện chuyển tải nội dung.”

Bản sắc dân tộc bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp qua lịch sử ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước. “

Ông Trần Trọng Tân cho rằng “Nền văn hoá Việt Nam ở thời nào cũng có tính tiên tiến và bản sắc dân tộc của thời ấy, không phải đến văn hoá xã hội chủ nghĩa mới mang tính tiên tiến và bản sắc dân tộc “.

Ông đề nghị gọi tên là “Nền văn hoá Việt Nam vì độc lập tự do hạnh phúc, vì hoà bình hữu nghị.” Tôi hiểu ý ông Trần Trọng Tân và đồng tình với ông nhiều điểm. Nhưng vấn đề không giản đơn như ông nghĩ.

Năm 1943, ông Trường Chinh viết Đề cương văn hoá Việt Nam, đưa ra nội dung Dân tộc, Khoa học, Đại chúng dựa theo Mao Trạch Đông thời Diên An, đề cao văn hoá công nông, tức là văn hoá phải có tính giai cấp. Sau cách mạng Tháng Tám, Nguyễn Hữu Đang và Nguyễn Đình Thi viết chung quyển Một nền văn hoá mới tuy dựa vào Đề cương văn hoá của Trường Chinh, nhưng dẫn giải không quá nặng ý thức hệ :

“…Nhà ở mới, cách ăn mặc mới sẽ sửa đổi cho giản dị và hợp vệ sinh mà không mất vẻ đẹp riêng của dân tộc ; Ngôn ngữ mới, cử chỉ mới sẽ biểu lộ một tinh thần tự cường và trọng bình đẳng, tự do mà không kém vẻ thanh nhã ; Xã giao mới sẽ giản dị hơn, thành thực hơn ; Lễ nghi mới trong nhà hay ngoài xã hội cũng sẽ trang nghiêm hơn, sơ sài hơn, mạnh mẽ hơn, có ý nghĩa hơn và hợp với điều kiện sinh hoạt mới hơn “…

Nội dung Nền văn hoá mới tuy do hai nhà lãnh đạo văn hoá thời ấy viết ra, nhưng không được coi là tiếng nói chính thức của Đảng và nó chưa thực hiện được bao nhiêu thì tiếng súng kháng chiến đã nổ.

Năm 1948, tại Đại hội Văn hoá toàn quốc lần thứ 2, thành lập Hội Văn hoá cứu quốc Việt Nam, ông Trường Chinh đã đọc bài diễn văn có tựa đề ” Chủ nghĩa Marx và vấn đề văn hoá Việt Nam ” đặt yêu cầu chính trị bao trùm lên nền văn hoá.

Từ năm 1950 trở đi những nguyên lý văn hoá vô sản dần dần chi phối nền văn hoá Việt Nam. Theo hai quyển hồi ký của nhà văn Võ Văn Trực (Chuyện làng ngày ấyCọng rêu dưới đáy ao) thì ở Nghệ An quê ông, người ta phá đình chùa, tập thể hoá cả mồ mả ông bà, sửa đổi phong tục tập quán bị coi là hủ lậu. Ở các vùng khác chưa ai viết ra, nhưng nói chung cũng na ná như vậy. Đến sau 1975, những người lãnh đạo văn hoá ở Thừa Thiên Huế còn dùng nội cung cố đô Huế làm kho giấy và cho phá bỏ Đàn Nam Giao khiến lòng dân bức xúc có nhiều câu ca dao phản đối.

Sau Đổi mới, với chủ trương khôi phục cơ chế thị trường, chấp nhận nhiều thành phần kinh tế, đặc biệt là kinh tế tư nhân đã đưa nền kinh tế thoát khỏi khủng hoảng và phát triển vượt bậc. Tuy nhiên tự do kinh tế làm cho nền chính trị chậm đổi mới ngày càng bộc lộ những bất cập kéo theo những bất cập về văn hoá, giáo dục…

Năm 1992, nhà nghiên cứu Nguyễn Kiến Giang, trong bài “Nhìn nhận thực trạng văn hoá Việt Nam hiện nay” đã viết :

Cuối cùng, còn một đặc trưng hết sức quan trọng nữa của khủng hoảng văn hoá ở nước ta hiện nay (nói là cuối cùng, nhưng về ý nghĩa lại đứng hàng đầu). Đó là sự hoà lẫn văn hoá và chính trị, trong đó chính trị vừa trực tiếp quyết định văn hoá, vừa bao trùm lên cả văn hoá. Trong các xã hội công dân, chính trị chỉ là một lĩnh vực của đời sống xã hội, chỉ tác động đến các quan hệ giữa nhà nước và người dân. Các lĩnh vực của đời sống xã hội cũng chịu ảnh hưởng của chính trị đến một mức độ nào đó, và đến lượt chúng, lại tác động ngược lại đối với chính trị, nhưng mỗi lĩnh vực lại có tính độc lập riêng. Đặc biệt văn hoá là lĩnh vực có tính độc lập cao hơn cả. Nhưng trong xã hội nước ta, văn hoá phụ thuộc hoàn toàn, hoặc gần như hoàn toàn vào chính trị. Nói như vậy có nghĩa là khủng hoảng văn hoá không tách rời khỏi đời sống chính trị của xã hội. Chúng tôi không bàn tới tất cả những vấn đề có liên quan tới mối quan hệ này, mà chỉ nêu bật lên một điểm : Hệ tư tưởng chính trị của Đảng Cộng sản từ lâu đã được nhiều người coi là giá trị chính thống của mình, nó đảm nhận vai trò “chất kết dính ” xã hội, thống nhất xã hội trong một thời gian tương đối dài, nhất là trong cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, hệ tư tưởng đó cũng đang khủng hoảng sâu sắc trước những chuyển biến sâu sắc của xã hội “.

Thực trạng văn hoá Việt Nam theo nhận xét của Nguyễn Kiến Giang 18 năm trước đã không thay đổi đáng kể, bởi định nghĩa từ Nghị quyết 5, cũng như cách lãnh đạo văn hoá mà ông Trần Trọng Tân nhắc lại với ý không đồng tình, vẫn không được thay đổi.

Vậy nền văn hoá xã hội chủ nghĩa có những đặc điểm gì khiến cho nó không tương thích với cuộc sống của một xã hội đổi mới và hội nhập quốc tế ?

1 – Đặt ý thức hệ lên trên đạo đức truyền thống dân tộc.

Có lẽ điều này bắt nguồn từ sự vận dụng “lý luận kinh điển”. Trong Tuyên ngôn Đảng cộng sản, trả lời câu hỏi vì sao chủ nghĩa cộng sản xoá bỏ tôn giáo và đạo đức cũ, Marx và Engels viết : “Cách mạng xã hội chủ nghĩa là sự đoạn tuyệt triệt để nhất với chế độ sở hữu cổ truyền ; không có gì đáng lấy làm lạ khi thấy rằng trong tiến trình phát triển của nó, nó đoạn tuyệt một cách triệt để nhất với những tư tưởng cổ truyền” (Nhà XBST, 1974, trang 78). Chủ tịch Hồ Chí Minh nói :”Gia đình to (cả nước) và gia đình nhỏ : Cái nào nặng ? Cái nào nhẹ ? Người cách mạng chọn gia đình to.” (HCM, Tuyển tập, Tập 4, trang 389).

Trước khi tiến hành một đợt “hành động cách mạng”, các cán bộ Đảng và các đoàn thể tiến hành công tác tuyên truyền giáo dục làm cho nhân dân tin rằng: thực hiện thắng lợi nhiệm vụ cách mạng, bảo vệ lợi ích của giai cấp là đạo đức thiêng liêng cao cả nhất, tình cảm gia đinh, thậm chí là tình mẫu tử, phụ tử đều phải đặt xuống dưới.

Đó là nguyên nhân xảy ra con tố cha, vợ tố chồng trong cải cách ruộng đất và cải tạo công thương nghiệp. Khuyến khích việc “tố” như thế chẳng những trái luân thường, mà sau này còn được biết là do quá khiếp sợ, muốn tâng công với chế độ, họ bịa chuyện vu khống người ruột thịt của mình. Nói dối ở trường hợp này đồng nghĩa với tội ác.

Nhiều tác phẩm văn học cũng thể hiện quan điểm đó.

Kịch bản về Lê văn Tám đốt kho xăng miêu tả Lê vănTám lân la cầu thân với lính gác kho, dần dà được họ tin yêu coi như con em. Lợi dụng sự tin cậy của các chú lính, Tám dễ dàng xâm nhập đốt kho xăng. Gần đây, bộ phim truyền hình Cuồng phong có chủ đề chống tội phạm buôn ma túy. Trong phim, công an đã giác ngộ cô Phượng nhận thức được việc buôn ma túy là tội ác, sau đó giao cho cô nhiệm vụ theo dõi, gài bẫy người bạn đồng hương muốn giúp đỡ cô có tiền giúp mẹ bằng việc buôn ma túy, và theo dõi tố giác người tình rất yêu cô là một tay buôn ma túy.

Để tồn tại trong một chế độ đặt ý thức hệ lên trên đạo đức truyền thống, người ta phải khai man lý lịch, mang cái mặt nạ “lập trường giai cấp” để che giấu suy nghĩ thực.

2 – Văn hoá xã hội chủ nghĩa đặt chủ nghĩa Marx- Lenin thành chân lý độc tôn. Tự do tư tưởng chỉ được phép trong vùng soi chiếu của quan điểm Marx -Lenin. Mọi tư tưởng khác với nó đều là thù địch. Phân biệt ranh giới tư tưởng thù địch rất khó, do vậy mà nhiều ủy viên Bộ chính trị của Đảng cộng sản Liên Xô, Trung Quốc lần lượt bị trở thành kẻ thù của cách mạng và bị giết. Nhiều đảng viên cộng sản cấp cao ở Việt Nam bị quy là “bọn chống Đảng”, bị tù tội cũng chỉ vì có mấy ý kiến khác Nghị quyết của Đảng. Đó là nguyên nhân khiến nhiều đảng viên cán bộ không dám nói thật ý mình, nghĩ một đàng nói một nẻo, báo cáo láo… Ông Hoàng Minh, chủ tịch Công đoàn quận 11, một đảng viên có công thời chống Mỹ, luôn luôn được đánh giá “4 tốt”, bỗng bị phát hiện trước khi tham gia cách mạng ông có theo đạo Hồi mà không khai trong lý lịch. Ông bị đuổi ra khỏi Đảng và cho về hưu.

Độc tôn tư tưởng rất trái với văn hoá truyền thống Việt Nam, luôn luôn rộng mở đối với mọi tư tưởng, tôn giáo. Phật giáo, Lão giáo, Nho giáo được người Việt Nam đón nhận, hợp lưu, hoà đồng, biến những điều tích cực trở thành yếu tố bản sắc văn hoá dân tộc. Người Việt gọi là “tam giáo đồng nguyên”. Đạo Cao Đài còn thoáng hơn, thờ tất cả danh nhân văn hoá thế giới.

Chủ nghĩa độc tôn tư tưởng gây ra tệ giáo điều nghiêm trọng và làm cho con người trở thành thụ động, ỉ lại, thiếu sáng tạo. Đó là nguyên nhân đưa tới chủ trương ” chống tự diễn biến “, cản trở sự đổi mới của Đảng, kéo theo sự trì trệ của nhiều ngành, giáo dục, văn học, nghệ thuật…

3 – Văn hoá xã hội chủ nghĩa đề cao tuyệt đối chủ nghĩa tập thể, đồng nhất chủ nghĩa cá nhân với chủ nghĩa vị kỷ và triệt để xoá bỏ.

Bảo vệ lợi ích cá nhân bị coi là vị kỷ, là xấu, cho nên nguyện vọng được hưởng thụ lợi ích chính đáng của cá nhân mình cũng luôn phải che giấu. Con người phải sống hai mặt, bên ngoài thì ca ngợi tập thể, bên trong thì toan tính cho riêng mình.

Các quyền con người đều là quyền của tập thể chứ không phải của cá nhân. Quyền tự do báo chí là quyền của đoàn thể được ra báo. Quyền hội họp là quyền của các đoàn thể đã được cho phép thành lập và chịu sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng. Các đoàn thể ở chế độ xã hội chủ nghĩa không phải là tổ chức dân sự, phi chính phủ (NGO) mà là tổ chức chính trị, những cánh tay nối dài của Đảng. Các đoàn thể này có chức năng tổ chức những phong trào thực hiện nghị quyết của Đảng, như phong trào thi đua tập thể, phong trào xây dựng khu phố văn hoá ; phong trào dạy tốt, học tốt… Những phong trào này là nguồn sản xuất ra những báo cáo láo, tô vẽ những điển hình theo khẩu vị cấp trên. Thời bao cấp, thủ tướng Phạm văn Đồng thăm trại lợn hợp tác xã, đã thắc mắc mà không được giải thích : “Tại sao lợn cùng một chuồng mà cắn nhau quá dữ dội ?” (Hoá ra chỉ vì ông chủ nhiệm hợp tác xã mượn lợn của người nuôi cá thể bỏ thêm vào chuồng lợn tập thể để báo cáo láo với thủ tướng ).

Nguyên tắc “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách ” làm cho mọi sai lầm, thất thoát không thể quy trách nhiệm cho ai. Nạn hội họp lu bù chính là con đẻ của nguyên tắc “trách nhiệm tập thể”, vì cần phải họp để có quyết nghị của tập thể, mai sau hư hại không ai bị kỷ luật hoặc phải ra toà. Vụ Vinashin không thể tìm ra người chịu trách nhiệm chính là một ví dụ của cơ chế “trách nhiệm tập thể “. Hội họp lu bù đã trở thành một yếu tố văn hoá xã hội chủ nghĩa.

Có lẽ cũng là do “trách nhiệm tập thể” mà không có một cá nhân nào trong những người lãnh đạo Việt Nam chịu đứng tên trả lời thư công dân. Trong hồi ký Nhớ Lại, nhà thơ Đào Xuân Quý có ghi lại một thắc mắc : Trước Đại hội Nhà văn lần thứ 4, năm 1989, ông có gửi thư xin ý kiến ông Cố vấn Trung ương Đảng Võ Chí Công về tình hình các nhà văn có quan điểm trái nhau rất nghiêm trọng. Ông Quý mong ngóng mãi mà không được ông Cố vấn trả lời ! Mấy năm nay2, hiện tượng không trả lời đã trở thành chuyện thường ngày : Các vị đại công thần của chế độ và có tuổi tác đáng cha chú các nhà lãnh đạo đương quyền như Võ Nguyên Giáp, Võ Văn Kiệt, Nguyễn Trọng Vĩnh, Đồng Sĩ Nguyên… gửi nhiều thư cho Bộ chính trị, Quốc hội, Chính phủ đều không được trả lời. Các kiến nghị của hàng ngàn trí thức cũng không được trả lời!

” Không trả lời ” là một yếu tố văn hoá xã hội chủ nghĩa ?

Trong nền văn hoá truyền thống ông bà ta có câu “Nhiều sãi không ai đóng cửa chùa” phải chăng đó là lời răn dành cho những con cháu hôm nay còn tôn thờ chủ nghĩa tập thể ? “Sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện để phát triển tự do của mọi người“, tuyên ngôn ấy của Marx, Engels từ năm 1848 đã không thành hiện thực trong các chế độ xã hội chủ nghĩa khoa học do hai ông sáng lập !

4 – Đề cao nghệ thuật vị nhân sinh, nhưng cuối cùng chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa tầm thường hoá văn học, nghệ thuật, khuyến khích văn học nghệ thuật minh hoạ chính trị.

Cùng thời với K. Marx, nhà văn Dostoïevski của Nga cho rằng “Cái đẹp cứu rỗi thế giới” và “Không có một tác phẩm chân chính nào lại không vị nhân sinh“. Trong chế độ xã hội chủ nghĩa, những tác phẩm có tính nhân văn, bênh vực các quyền con người đều bị cấm đoán, như Bác sĩ Jivago của Boris Pasternak ở Liên Xô ; Con nai đen của Nguyễn Đình Thi, Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, Về Kinh Bắc của Hoàng Cầm… Tác phẩm hay nhất phải là tác phẩm phục vụ kịp thời cho chính trị. Tố Hữu gọi tiểu thuyết Hòn Đất của Anh Đức là “hòn ngọc”, mặc dù về nghệ thuật rất non kém. Cũng theo Tố Hữu, quyển tiểu thuyết hay nhất miền Bắc là Cái sân gạch của Đào Vũ ca ngợi cuộc sống ở hợp tác xã nông nghiệp (sự thật là các hợp tác xã đang làm cho năng suất lúa sút giảm, khiến những người trung thực như ông Kim Ngọc tìm cách khoán chui để cứu nông dân !).

Năm 1967, tôi đến tỉnh Quảng Ninh, được nghe câu chuyện về “ông Các Mác của tỉnh ta”. Trong cuộc triển lãm hội hoạ của tỉnh, ông Ủy viên Ban thường vụ tỉnh ủy, Trưởng ban Tuyên giáo đến xem và dừng lại trước bức tranh vẽ một cây cổ thụ, đã có ý kiến chỉ đạo : “Tác giả này chưa quán triệt quan điểm lập trường của người thợ mỏ ! Chúng ta đang thiếu gỗ chống lò. Nếu trồng ra toàn những cây có thân uốn éo như trong bức tranh này thì lấy đâu ra gỗ chống lò để khai thác than?” !

Kể sao cho hết những chuyện cười ra nước mắt ! Chính vì thế mà lúc cuối đời, nhà văn quân đội Nguyễn Minh Châu đã viết ” Ai điếu cho nền văn học minh hoạ “. Nhưng đến nay nền văn học ấy vẫn còn được khuyến khích.

Thưa ông Trần Trọng Tân, vì những điều kể trên tôi xin tỏ đồng tình với ông về đề nghị đưa nội dung văn hoá vào Cương lĩnh : “Xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam vì Độc lập, Tự do, Hạnh phúc, vì hoà bình hữu nghị.” Về cách dẫn giải nội dung này, tôi cũng cơ bản đồng ý với ông và có vài suy nghĩ thêm xin sẽ đề cập ở các bài sau.

 

III. VÌ SAO HỌC ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH MÀ KHÔNG THỂ LÀM THEO ?

Các nhà lãnh đạo của Đảng đều thấy mối nguy của tình trạng cán bộ đảng viên thoái hoá, biến chất, nhưng có lẽ chưa thấy nguyên nhân chính là do không đổi mới toàn diện, kinh tế, chính trị, văn hoá, giáo dục, xã hội. Hoặc có thấy, nhưng lại sợ đổi mới toàn diện thì gây mất ổn định, đe doạ quyền lãnh đạo của Đảng. Chúng tôi tin rằng đổi mới toàn diện sẽ đưa tới phát triển hài hoà, xã hội lành mạnh, tổ chức Đảng và Nhà nước trong sạch và đó chính là cơ sở để tìm lại được niềm tin của nhân dân, tăng thêm sức mạnh cho Đảng.

Bộ chính trị chủ trương phát động cả nước học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh với mục đích đẩy lùi tiêu cực, tham nhũng, làm trong sạch đội ngũ Đảng và cán bộ công chức, khôi phục đạo đức xã hội. Dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội 11 nhận định : “Cuộc vận động Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh chưa thực sự đi vào chiều sâu, ở một số nơi còn có biểu hiện hình thức “. Nhận định ấy đúng, nhưng chưa đủ. Chúng ta có thể kể hằng loạt tên tuổi những cán bộ ở tất cả các cấp, không chỉ là người học mà còn là người đứng trên bục giảng về đạo đức Hồ Chí Minh, nhưng họ lại vi phạm ngay những điều chính họ vừa rao giảng, họ tham nhũng lớn hơn, nhận hối lộ to hơn, chiếm đất đai nhiều hơn… Chỉ cần giở danh sách những người phạm kỷ luật gần đây thôi đã cho thấy mức độ nghiêm trọng của sự sa sút về tư tưởng đạo đức trong cán bộ trung, cao cấp : Ủy viên Trung ương Đảng, bí thư Tỉnh ủy Ninh Bình bị kỷ luật vì sa sút phẩm chất đạo đức, lối sống ; Ba ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy tỉnh Trà Vinh bị kỷ luật vì vi phạm pháp luật về nhà, đất ; Thành phố Hà Nội có 282 đảng viên bị kỷ luật, trong đó có lãnh đạo Tổng công ty Đầu tư – Phát triển nhà, 5 lãnh đạo cấp Sở ; 3 lãnh đạo thành phố Sơn Tây, 91 đảng viên phạm pháp. Phó bí thư Tỉnh ủy kiêm Chủ tịch tỉnh Hà Giang có lối sống sa đoạ, được cảnh báo mà không sửa. Bí thư, hai phó bí thư, một ủy viên Thường vụ tỉnh ủy Cà Mau, Bí thư tỉnh ủy Tỉnh ủy Tiền Giang, Phó bí thư Tỉnh ủy Thái Bình đều bị “thực hiện quy trình xử lý kỷ luật”. Đặc biệt có các vị lãnh đạo ngành tuyên huấn như ủy viên Trung ương Đảng, Tổng giám đốc Đài Truyền Hình Việt Nam ; Giám đốc Học viện chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh cũng phải bị ” thực hiện quy trình xử lý kỷ luật “. Còn ở cấp cơ sở ? Có thể nói, ở đâu cũng có tham nhũng, có nơi đã bị phát hiện và những nơi còn lại có thể chỉ vì ” chưa bị lộ” ! Chỉ một xã An Ninh đã có đến 60 đảng viên bị kỷ luật vì ăn xén, ăn bớt tiền cứu tế người nghèo thì có thể đoán được tình trạng chung về đạo đức ở các địa phương khác trong cả nước.

Tại hội trường Quốc hội, ngày 1 tháng 11 năm 2010, đại biểu Lê Văn Cuông phát biểu ngắn, nhưng có giá trị tổng kết : “Cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh đã được triển khai 4 năm trên phạm vi cả nước, nhưng kết quả làm theo lời Bác chưa được nhiều, trái lại có một số vấn đề bức xúc như chạy chức, chạy quyền, tham nhũng, lãng phí, tư lợi, đạo đức xuống cấp trong một bộ phận cán bộ công chức ngày càng có biểu hiện tinh vi, phức tạp“. Ngày 30 tháng 11 -2010 tại Hội nghị tổng kết công tác phòng, chống tham nhũng, ông Trương Vĩnh Trọng Phó thủ tướng, thay mặt Ban chỉ đạo công tác này báo cáo: “Tham nhũng vẫn còn nghiêm trọng và diễn biến phức tạp, diễn ra ở nhiều lĩnh vực, nhiều ngành, nhiều cấp…”

Vì sao nhiều lần học đi học lại đạo đức Hồ Chí Minh mà số đông cán bộ đảng viên vẫn không thực hiện được ? Những người đặt trọn niềm tin vào cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh chưa nắm được những kiến thức về khoa học giáo dục.

Khoa học giáo dục đã kết luận : Việc giáo dục đạo đức không giống như giáo dục kiến thức. Sau khi học Luật giao thông, người đi đường có thể vận dụng được. Nhưng kẻ thiếu đạo đức học xong bài đạo đức, hắn vẫn tiếp tục sống vô đạo đức. Vấn đề này đã được nhân loại tranh cãi từ 2500 năm trước. Socrates và Platon là những người đầu tiên đồng nhất sự hiểu biết với đạo đức. Các ông cho rằng người ta làm điều vô đạo đức là do không hiểu biết điều đó là xấu, nếu được dạy bảo những điều nào đó là vô đạo đức, là xấu thì họ sẽ không làm. Aristotle sớm phát hiện ý kiến đó không chính xác. Nhà giáo dục Mỹ đầu thế kỷ 20 John Dewey cho rằng, hiểu biết lý thuyết về mìn của tên trộm két sắt có thể giống hệt như hiểu biết của một nhà hoá học, nhưng hai bên hoàn toàn khác nhau về mục đích thói quen, tính cách, đạo đức, cho nên tên trộm dùng hiểu biết về mìn là để phá cho được chiếc két sắt, lấy trộm của cải.

Triết gia lớn của Đức ở thế kỷ 18, Emmanuel Kant cho rằng, lý trí đã là sự hoàn chỉnh, không cần nối tiếp hành động. Lý trí là trung tâm chỉ bảo cho con người biết phải làm gì, mơ ước gì. Lý trí có khả năng sinh ra trực giác đạo đức, cung cấp động cơ cho đạo đức. Ông đã bị người đời sau châm biếm bằng một câu chơi chữ : ” Về mặt đạo đức, thế kỷ 19 đã không do Kant quản lý mà do thói đạo đức giả quản lý.” (Đối lại chữ Kant là tên của ông với chữ Cant có nghĩa là thói đạo đức giả ).

Nhiều nhà giáo dục cho rằng phải cân bằng việc bồi dưỡng lý trí và tình cảm, khi tình cảm ổn định có khi còn quan trọng hơn lý trí. Nhà giáo dục J. Donald Walters viết : “Một mái trường yên tĩnh, một không khí gia đình, và một nền giáo dục tập trung vào việc nuôi dưỡng trẻ đạt đến độ trưởng thành về cảm xúc sẽ giúp trẻ dễ dàng ứng phó với sự tiêu cực trong bản thân của trẻ.”

Khoa giáo dục học cho biết, tính cách của một người liên quan đến đạo đức của người đó và tính cách của con người hình thành rất sớm, từ sự dạy dỗ, sự nêu gương của cha mẹ, gia đình, sự giáo dục của nhà trường và ảnh hưởng của môi trường xã hội.

Phân tích những lý luận về đạo đức, nhà giáo dục John Dewey trong tác phẩm Dân chủ và Giáo dục đã nêu ra 4 nội dung, xin được tóm tắt 15 trang sách của ông như sau :

1 – Cái bên trong và cái bên ngoài : Nếu ta cho rằng ông A là người có đạo đức, liêm khiết, còn việc ông vòi hối lộ chẳng liên quan gì đến cái nền đạo đức vốn có của ông. Nhận định như vậy là tách rời cái tinh thần ở bên trong và hành vi ứng xử bên ngoài. Thực ra ông A đó mang mặt nạ đạo đức để che đậy cái bên trong thối nát vô đạo đức. Tinh thần, cái bên trong của con người và hành vi ứng xử của người đó là thống nhất, không thể chia cắt.

2 – Có sự đối lập giữa nghĩa vụ sự hứng thú ? Một người trước khi vào học ngành y , chưa nghĩ tới sau này công việc buộc mình phải tiếp xúc với bệnh dịch rất nguy hiểm. Tuy nhiên, nếu là người có tinh thần sẵn sàng vì người khác thì khi biết rõ nghề nghiệp buộc mình phải làm việc trong tình trạng nhiều rủi ro, người ấy chẳng những sẵn sàng chấp nhận và còn tận tình chăm sóc người bị bệnh truyền nhiễm. Người có đạo đức là người thực hiện nghĩa vụ một cách hứng thú.

3 – Trí thông minh và tính cách : Trí thông minh không đồng nhất với tính cách. Sự hiểu biết không đồng nhất với đạo đức. Bài học đạo đức chỉ có tác dụng khi người học vốn có sẵn lòng nhân hậu, tôn trọng, đồng cảm và thành thật với người khác. Một người thông minh học rộng có thể thuyết trình về đạo đức Hồ Chí Minh rất thuyết phục, nhưng không hẳn anh ta sẽ làm được những điều mình nói, nếu như bản chất anh ta là kẻ ích kỷ, tham lam.

Có những hành vi đạo đức theo tập quán tuân phục quyền uy, tuy cũng đem lại kết quả tốt, song đó không phải là kết quả của tính cách, của đạo đức. Trong một xã hội dân chủ, tính cách, đạo đức của mỗi cá nhân mới là điều đáng cho ta mong đợi.

4 – Có câu châm ngôn : gieo thói quen sẽ gặt tính cách ; gieo tính cách sẽ gặt số phận. Gia đình gia giáo, xã hội lành mạnh, nhà trường có nội dung và phương pháp giáo dục tiến bộ, nơi làm việc có quy chế chặt chẽ, sẽ tạo cho con người những thói quen lành mạnh, dần dần thói quen trở thành tính cách trong sáng, tốt đẹp. Tính cách có quan hệ với đạo đức như bộ xương đối với cơ thể sống vậy.

 

Trước thế kỷ 20, các nhà hiền triết giúp cho nhân loại mỗi ngày có thêm những nhận thức mới về thiên nhiên và bản thân mình. Đến đầu thế kỷ 20, Sigmund Freud phát hiện hành vi của con người không chỉ được điều khiển bởi ý thức mà nó còn bị chi phối, thúc đẩy bởi động lực của vô thức nằm sâu tận đáy tâm thức. Có thể hiểu điều ấy theo cách nói ví von nôm na của nhiều hôm nay là “Trong con người có một phần “con” và một phần “người “; phần “người ” thì lộ ra, còn phần “con” thì bị che giấu. Tốt thì khoe, xấu thì che mà ! Học thuyết phân tâm học của S. Freud là một trong những học thuyết khoa học tinh thần lớn nhất của nhân loại, nó làm đảo lộn những quan niệm truyền thống về thế giới tinh thần của con người, trong đó có vấn đề đạo đức. Học thuyết của ông có ảnh hưởng đến nhiều ngành, từ y học, tâm lý học, đạo đức học, văn học…

Từ học thuyết của ông, người ta đánh giá lại cách nhìn nhận đạo đức của thế kỷ 19 : “Đi qua nhanh, quay mặt không nhìn tất cả những gì là khó chịu, luôn luôn làm như không trông thấy gì : Đó là tóm tắt toàn bộ quy tắc đạo đức của thế kỷ 19” ( S. Freud, của Stephan Zweig). Đó chính là thói đạo đức giả.

Vậy sự ý thức được mà đạo đức học trước kia cho là một mối nguy hiểm cơ bản thì nay S. Freud xem là một phương cứu chữa ; Sự dồn nén (ẩn ức) được đạo đức cũ đánh giá là lành thì Freud chứng minh là nguy hiểm. Cái mà phương pháp cũ che giấu, ông lại muốn trưng ra giữa ban ngày ban mặt. S. Freud cho rằng, ở mọi lúc, mỗi khi ta phát ra một lời, mỗi khi ta hoàn thành một hành vi nào đó, chúng ta bị bắt buộc phải kìm hãm hay đúng hơn dồn nén những động tác vô thức : Tình cảm đạo đức hay khai hoá phải luôn luôn tự bảo vệ chống lại bản năng dã man của sự hưởng thụ.

Do vậy – cách nhìn của khái niệm cơ sở ghê gớm mà S. Freud gợi ra lần đầu tiên – Toàn bộ cuộc sống tâm linh hiện ra như một cuộc đấu tranh không ngừng và bi thảm, giữa cái ý muốn hữu thức và vô thức, giữa hành động có chịu trách nhiệm và những bản năng không chịu trách nhiệm của chúng ta (sách đã dẫn). Triết gia Reinhol Niebuhr còn cho rằng : ” Freud không nghĩ rằng bản ngã có khả năng chống lại cộng đồng vì quyền lợi của chính nó“…

*

Từ những kết quả nghiên cứu khoa học về giáo dục đạo đức kể ở trên, chúng ta có thể hiểu nguyên nhân vì sao việc tổ chức học tập và làm theo đạo đức Hồ Chí Minh không thu được kết quả. Ngược lại, cách tổ chức học tập như vậy còn gây ra một số tác hại như sau :

1 – Với quy mô tổ chức rộng khắp và kéo dài nhiều năm rất tốn kém tiền bạc, nhất là tốn nhiều thời gian quý báu. Sau mỗi đợt học tập, mỗi người được phát giấy để viết thu hoạch nộp lên ban tổ chức. Mỗi chi bộ, đảng bộ đều có cuộc họp tổng kết biểu dương khen thưởng những người viết thu hoạch sâu sắc. Sau đó những người có thu hoạch sâu sắc lại được đưa lên cấp trên dự cuộc thi thuyết trình để chọn ra người xuất sắc nhất của phường, rồi của quận, tỉnh, thành phố…

Cách làm này khuyến khích những người có khiếu nói, tô vẽ những điều do họ nghĩ ra. Những người thực sự có đạo đức thường khiêm tốn thực thà, ít nói, nhiều người còn xin không đi học vì nghĩ rằng mình đã học nhiều lần rồi, vấn đề còn lại là chưa thực hành tốt.

2 – Sau một thời gian dài, hậu quả xấu bộc lộ thành “quy luật”, gây phản cảm đối với những đảng viên và người dân trung thực. Họ nhìn ra những người mồm lúc nào cũng nói làm theo đạo đức Hồ Chí Minh mà hành vi, lối sống thì ngược lại. Nhà văn, cựu chiến binh, đảng viên Phạm Đình Trọng trong bài Ăn mày dĩ vãng đã coi cách tổ chức Cuộc vận động học tập đạo đức Hồ Chí Minh như hiện nay đã làm cho những người học trở thành “những diễn viên đang diễn vở kịch học tập đạo đức Hồ Chí Minh“. Và “Một bộ máy nhà nước tham nhũng cao giọng rao giảng đạo đức Hồ Chí Minh… thì đó là sự giả dối vô liêm sỉ…Cuộc vận động học tập đạo đức Hồ Chí Minh trở thành cuộc vận động làm điều giả dối“, “núp bóng ăn theo vinh quang của quá khứ để tồn tại. Đó là sự ăn mày dĩ vãng.”

3 – Nhà văn Phạm Đình Trọng còn có một nhận xét rất xác đáng là cuộc vận động mang “Tính hình thức, áp đặt, duy ý chí, đầy tính tôn giáo, tụng niệm. Cách công tác tư tưởng theo lối mòn xưa cũ, không thích hợp với thời đại công nghệ thông tin.”

Vì bài viết trên, đảng viên Phạm Đình Trọng một người trung thực, thẳng thắn bị kiểm điểm nặng nề, đưa tới việc phải ra khỏi Đảng !

Trình bày lại những điều nói trên, những mong Bộ chính trị cân nhắc lại việc đặt cho Cuộc vận động học và làm theo đạo đức Hồ Chí Minh nhằm đạt mục tiêu làm trong sạch bộ máy Đảng và Nhà nước. Chúng tôi cho rằng nên trao mục tiêu vô cùng quan trọng và khó khăn này cho sự nghiệp Đổi mới toàn diện mà, trước tiên là xây dựng cho được một hệ thống tư pháp độc lập và một nền báo chí tự do.

Tại sao lại không tổ chức học tập Tư tưởng Hồ Chí Minh nhỉ ? “Bao nhiêu quyền hạn đều của dân” ; “Chính quyền từ xã đến chính phủ trung ương do dân cử ra ” ; “Nếu chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ ” ; “Hội hè tín ngưỡng, báo chương ;Họp hành đi lại có quyền tự do“; “Bảy xin Hiến pháp ban hành. Trăm điều phải có thần linh pháp quyền “. “Pháp luật phải thẳng tay trừng trị những kẻ bất liêm, bất kỳ kẻ ấy ở địa vị nào, làm nghề nghiệp gì “…

Nếu tư tưởng Hồ Chí Minh trở thành hiện thực thì chẳng những Đảng, Nhà nước trong sạch mà đạo đức, văn hoá của xã hội cũng sẽ nhanh chóng hồi phục.


IV. XÂY DỰNG NỀN VĂN HOÁ HIỆN ĐẠI.

Chúng ta đang thực hiện công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước, trong đó phải hiện đại hoá nền văn hoá.

Thế kỷ 18 nước Pháp sản sinh nhiều nhà tư tưởng vĩ đại đề cao giá trị cá nhân con người, Con Người viết hoa. Ánh sáng tư tưởng của họ làm cho thế kỷ 18 mệnh danh là Thế kỷ ánh sáng : Nhân loại nhận ra mình có những quyền được tạo hoá ban cho. Niềm tin đó tạo ra sức mạnh và trí tuệ đưa tới cuộc Cách mạng Pháp với khẩu hiệu Tự do – Bình đẳng -Bác ái. Hai trăm năm qua, ánh sáng đó lan tỏa khắp châu Âu, châu Mỹ, trở thành nền văn hoá hiện đại của toàn nhân loại. Nhật Bản là những người châu Á đầu tiên sớm biết hấp thu nền văn hoá đó để trở nên một dân tộc có nền văn hoá hiện đại, trước khi trở thành một quốc gia công nghiệp hiện đại. Người Hàn Quốc, Đài Loan cũng theo hướng đó và tìm được phồn vinh về vật chất và phong phú cho tâm hồn.

Từ cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, Việt Nam ta đã bắt đầu phong trào Âu hoá, chủ yếu là tiếp thu văn hoá Pháp và Việt hoá nó, biến nó thành của mình. Lúc ấy cũng có sự tranh chấp giữa nho học với tân học, giữa một số tập tục với sinh hoạt mới, nhưng cái mới đã tỏ rõ ưu thế. Nhờ tiếp thu văn hoá hiện đại mà chúng ta có chữ quốc ngữ, có báo chí, có tiểu thuyết mới, thơ mới, kịch nói, tân nhạc, đàn ông cắt tóc ngắn,đàn bà tóc uốn, có thói quen người lớn uống cà phê, trẻ con uống sữa. Cả chiếc áo dài niềm tự hào hiện nay của thời trang dân tộc cũng là sản phẩm đẻ ra bởi một nhà thiết kế người Pháp trong cuộc hiện đại hóa văn hóa đầu tiên này.3

Nền văn hoá Việt Nam ngừng tiếp thu văn hoá hiện đại suốt 30 năm chiến tranh. Nói cho đúng là nó ngừng tiếp nhận những giá trị gọi là ” văn hoá tư sản Phương Tây”, để bắt đầu tiếp nhận văn hoá xã hội chủ nghĩa. Ở các vùng Pháp chiếm và sau này ở các đô thị miền Nam vẫn tiếp tục giao lưu, tiếp thu văn hoá phương Tây và đạt được một số hiệu quả đáng kể. Tuy nhiên, việc này không được số đông nhân dân Việt Nam đang sôi sục lao vào cuộc chiến tranh giải phóng chấp nhận. Giữa Sài Gòn có phong trào Bảo vệ văn hoá dân tộc nhằm chống lại cái gọi là “văn hoá thực dân mới của đế quốc Mỹ. Quyển “Người Việt cao quý” của Vũ Hạnh là tác phẩm đẻ ra từ phong trào đó.

Sau Đổi mới, gia nhập WTO, Việt Nam mở cửa hội nhập kinh tế toàn cầu , văn hoá hiện đại cũng du nhập vào đất nước ta : Công nghệ tin học phát triển như vũ bão ; nhạc rock được lớp trẻ yêu thích ; Các hoạ sĩ sáng tác với nhiều phương pháp: tả thực, trừu tượng, ấn tượng, nghệ thuật sắp đặt ; Nhiều nhà thiết kế thời trang Việt Nam được thế giới biết tới ; Người mẫu thời trang là một nghề mới được xã hội hâm mộ… Cùng với nhiều hình thức văn hoá hiện đại, cũng có những xu hướng bệnh hoạn xâm nhập làm trầm trọng thêm tình trạng khủng hoảng văn hoá như phim ảnh khiêu dâm, bạo lực. Nhiều clip sinh hoạt tình dục, bạo lực ở trường học bị tung lên mạng…

Điều cực kỳ quan trọng hiện nay là chúng ta cần xác định những mục tiêu nào cấp thiết nhất để hiện đại hoá nền văn hoá Việt Nam trong thời đại mà “Thành quả của hoạt động tinh thần của một dân tộc trở thành tài sản chung của tất cả các dân tộc ” (Tuyên ngôn Cộng sản). Chúng tôi cho rằng các mục tiêu có thể tìm thấy ngay trong chủ nghĩa nhân văn từ thế kỷ ánh sáng mà tới hôm nay vẫn còn là mơ ước xa vời của người Việt Nam. Đồng thời khôi phục và gìn giữ những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc.

1 – Khôi phục những giá trị văn hoá thiêng liêng :

Tình yêu Tổ quốc, từng tấc đất thấm máu tổ tiên và đồng bào ruột thịt là thiêng liêng. Mọi tổ chức, cá nhân dù là vĩ nhân cũng không được đặt ngang hàng vị trí đó. Các quyền sống và quyền tự do là những giá trị thiêng liêng.

Tình yêu cha mẹ, gia đình ruột thịt là thiêng liêng.

Lửa tình yêu dù nước dâng cao bao nhiêu cũng không thể dập tắt ” (Thánh kinh) phải là cơ sở của hôn nhân.

Sống và làm việc theo pháp luật và sống trong tình nhân ái là hai nét song đôi của nếp sống văn hoá hiện đại.

Những điều kể trên tưởng không có gì phải tranh cãi, ấy vậy mà nhiều năm qua đã có những ngăn cách :

– Tổ quốc phải gắn liền với xã hội chủ nghĩa ? Có hay không ? Câu hỏi đó đang chia rẽ Việt Nam, gây bầm giập tâm can Việt Nam. Nhiều người, có cả những đảng viên cộng sản phải vào trại cải tạo vì dám nói không, chỉ có một Tổ quốc ! Vì sao phải bảo vệ một tín điều không tưởng để gây chia rẽ, đau đớn đến thế ? Một tín điều đã gây ra cải cách ruộng đất, cải tạo công thương nghiệp, nông nghiệp, đàn áp Nhân văn Giải phẩm ! Nguy hại hơn vì tin theo nó mà những người cộng sản Việt Nam khi đối mặt với kẻ thù dân tộc cứ lầm tưởng là những đồng chí thân thiết, ngược lại lắm khi nhìn đồng bào ruột thịt của mình lại e sợ đó là những kẻ thù giai cấp !

– Nền giáo dục Việt Nam đặt nội dung giáo dục ý thức hệ Marx – Lenin là trọng tâm. Trẻ vào mẫu giáo đã nghe những bài hát chính trị. Những người soạn sách giáo khoa bất cứ môn học nào cũng cố lồng chính trị vào, coi đó là một thành tích. Chị Trần Mai Liên mẹ của một học sinh ở huyện Gò Vấp thành phố Hồ Chí Minh, gửi cho báo Phụ Nữ điều ước đầu năm 2009 : “Mong sửa đổi sách giáo khoa sao cho thiết thực. Môn giáo dục công dân dạy những lý tưởng cao xa không phù hợp với trẻ. Đối với trẻ cần phải dạy cho chúng biết yêu ông bà, cha mẹ, anh chị em và mọi người ; Biết sống có trách nhiệm với bản thân mình, với cộng đồng,không tham lam ích kỷ.”

 

2 – Xây dựng con người Việt Nam tự tin, tự lập, không thụ động, ỉ lại hoặc phụ thuộc vào tập thể cộng đồng, có tư duy độc lập, luôn luôn sáng tạo, dũng cảm bảo vệ niềm tin, quan điểm của mình trước số đông, trước bạo lực.

Thời mông muội, con người sống quần thể, cá nhân hoàn toàn phụ thuộc, phục tùng tập thể. Cá nhân là thành viên của tập thể, khi thấy cần cộng đồng dễ dàng hi sinh mạng sống của cá nhân như ném cô gái trẻ cho Hà Bá để ngăn lụt lội. Những người cầm đầu nhân danh đấng chí tôn, con trời toàn quyền cai trị cộng đồng, đất nước.

Thân phận của mỗi người trong mối quan hệ với cộng đồng là mối suy ngẫm nghìn năm của loài người ; Được nung nấu suốt thời Phục hưng và bừng nở thành một sự khám phá : “Mỗi người sinh ra và sống tự do và bình đẳng về các quyền ” (Tuyên ngôn Dân quyền và Nhân quyền của Pháp, 1789).

Vừa qua, giải Nobel Hoà bình 2010 trở thành một thách thức lớn đối với lương tri toàn nhân loại.

Một bên chủ yếu là Trung Quốc cho rằng ” Lưu Hiểu Ba là kẻ thủ ác, một tên tội phạm đang thụ án 11 năm tù vì tội kích động bạo loạn, mưu toan lật đổ nhà nước xã hội chủ nghĩa “.

Sau đây là nội dung “tội ác” của Lưu Hiểu Ba :

Gạt bỏ khái niệm độc đoán của việc lệ thuộc vào một chúa tể hoặc một quan chức, thay vào đó, một hệ thống tự do,dân chủ, pháp trị,đồng thời tiến tới việc khuyến khích cổ vũ cho ý thức của các công dân mới,những người xem quyền con người là cơ bản và việc góp phần mình vào là một nhiệm vụ ” (Linh bát Hiến chương do Lưu Hiểu Ba chấp bút).

Ủy ban Nobel Hoà bình đánh giá Lưu Hiểu Ba là bậc đại hiền, một nhân cách cao cả, dũng cảm bảo vệ các quyền con người .

Các quốc gia dân chủ đều hoan nghênh sự kiện này. Báo chí Việt Nam chỉ thuật lại phản ứng của Trung quốc. Không có một người Việt Nam nào phát biểu quan điểm của riêng mình đối với sự kiện này trên báo chí trong nước. Chẳng lẽ người Việt Nam thụ động chỉ chờ nghe ý kiến của những người lãnh đạo cộng đồng ? Dân tộc ta đang rất cần một môi trường văn hoá chấp nhận tự do tư tưởng, phản biện, tranh luận, để hình thành những cá nhân có đức tính tự tin, tự lập, tự chủ. Ngay trong chế độ này, giữa tháng ngày cay đắng nhất cũng đã từng có những con người giữ được phẩm chất ấy, như ông Kim Ngọc. Tiếc thay mẫu người ấy, phẩm chất ấy không được trân trọng, nhân lên ! Càng đáng buồn hơn là những người có phẩm chất ấy đã bị trù giập đày ải ! Con người Việt Nam co rúm lại !

 

3 – Trong nền văn hoá hiện đại, mỗi người dân phải ý thức sâu sắc mình là một công dân, chứ không phải thần dân. Hiện nay dù đã trải qua 65 năm cách mạng, dù Hiến pháp ghi nhà nước là của dân, do dân, vì dân, cán bộ là đày tớ của dân, nhưng trong thực tế người dân vẫn bị đối xử như những thần dân. Các đày tớ của dân bày ra đủ thứ thủ tục để hành dân để vòi của đút.

Thế nào là ý thức công dân ở một nước dân chủ ? Công dân ở tư thế của người chủ nhân đất nước, có quyền ứng cử, bầu cử tự do, lập ra nhà nước theo thể chế mà mình chọn để phục vụ cho mình, hành pháp có quyền lực bị hạn chế và kiểm soát theo luật định. Chỉ có như vậy Nhà nước mới thực sự là của dân do dân, vì dân. Công dân có quyền tự do trong đó có quyền tự do báo chí, tự do lập hội phù hợp với nghề nghiệp, để bảo vệ quyền lợi của mình, trong xã hội dân sự.

Những người cầm quyền Việt Nam vẫn tiếp tục khuyến khích cách suy nghĩ theo địa vị thần dân :

– ” Ơn Bác, ơn Đảng…Ơn Đảng, ơn chính phủ… “

Mới đây người dân Miền Trung bị lũ lụt mất cả mạng sống, tài sản, khi được tặng mấy bao mì gói vẫn khúm núm nói lên lòng biết ơn Đảng, chính phủ. Báo chí, đài truyền hình đưa nguyên văn những lời này để “định hướng công tác tư tưởng “.

– “Đảng cử dân bầu” trong tất cả các cuộc bầu cử từ Quốc hội cho đến các đoàn thể, đó là biểu hiện của nền chính trị và văn hoá của xã hội thần dân.

– Các danh hiệu “ưu tú “, “nhân dân” các nhà giáo, nghệ sĩ đều phải làm đơn “kính gửi… xin được phong tặng. Vài năm nay nhiều nghệ sĩ ở miền Nam phản ứng không chịu làm đơn theo gợi ý. Nhiều nghệ sĩ được nhân dân hâm mộ nhưng không có “danh hiệu”, trong khi nhiều vị có danh hiệu “nhân dân” nhưng khi xuất hiện không được nhân dân vỗ tay !

 

4 – Thời mông muội, con người luôn run sợ trước thiên nhiên. Từng bước khám phá, khuất phục, cải tạo thiên nhiên, khai thác thiên nhiên phục vụ cho mình, con người tìm cách sống hoà hợp với thiên nhiên. Nhưng suốt quá trình công nghiệp hoá, càng ngày con người càng tàn phá thiên nhiên rất dữ dội. Đến nay, sức khỏe trái đất đang lâm nguy. Các quốc gia công nghiệp có nhiều cuộc hội họp bàn thảo, đề ra những nghị định thư, nhưng vì còn nhiều quốc gia bo bo giữ lợi ích riêng, đến nay vẫn chưa có tiếng nói đồng lòng cứu trái đất.

Ở nước ta, nạn phá rừng được cảnh báo hằng chục năm trước và gần đây là làm thủy điện vô tội vạ. Thiên nhiên đáp trả lại bằng sự trừng phạt, lũ lụt năm sau cao hơn năm trước. Bình luận viên Đài Truyền hình Việt Nam mới đây nhận xét, mức nước ngập ở Miền Trung năm 2010 cao hơn mức ngập của ” trận lũ lịch sử năm 2007″!

Các nhà máy, xí nghiệp bí mật hoặc công khai xả nước thải giết chết nhiều con sông từ Nam chí Bắc. Làng có nhiều người bị nhiễm độc chết vì bị ung thư được gọi là “làng ung thư”.

Một “chủ trương lớn” trao cho Trung quốc khai thác bauxite Tây nguyên trên nóc nhà Tổ quốc, treo cái chết trên đầu hàng chục triệu nhân dân mà bao nhiêu lời can ngăn vẫn chưa được lọt tai lãnh đạo.

Vừa qua, lễ hội ngàn năm Thăng Long để lại những bãi rác không lồ. Trước đây, những hội hoa anh đào, hội hoa xuân cũng đã bị dẫm đạp xâu xé, để lại những bãi rác môi trường và bãi rác đạo đức.

Bảo vệ trái đất, bảo vệ rừng, sông, biển, bảo vệ môi trường sống… đang là bài học chưa thuộc của Việt Nam từ những người lãnh đạo cho tới người dân.

Bảo vệ thiên nhiên, bảo vệ môi trường sống là một tiêu chí quan trọng của nền văn hoá hiện đại.

5 – Lâu nay chúng ta nói nhiều về “đậm đà bản sắc dân tộc “, nhưng chưa ai dẫn giải thật xác đáng nội dung của nó. Nhiều người nghĩ rằng, phục hồi các lễ hội, các tục cúng bái ở đình miếu, sáng tác nhạc theo làn điệu ca cổ là phục hồi bản sắc dân tộc. Gần đây xuất hiện khái niệm các bài hát “dân gian hiện đại “. Ca sĩ Trần Hiếu không đồng ý khái niệm này. Không ai cãi ông, nhưng cũng chẳng ai tiếp thu ý kiến ông.

Tôi nhớ cách đây nhiều năm, trong một lần trả lời báo chí, nhạc sĩ Nguyễn Thiện Đạo cho rằng : Một tác phẩm đậm đà bản sắc dân tộc là khi nó thể hiện sâu sắc tinh thần yêu nước. Tôi rất tán thành ý kiến ông. Bài thơ mà ngày nay được xem là bản Tuyên ngôn độc lập lần thứ nhất của dân tộc, anh hùng Lý Thường Kiệt viết bằng chữ Tàu và dùng thể thơ tứ tuyệt đời Đường của Tàu. Thế nhưng ai cũng nhận thấy bài thơ này đầy khí phách và bản sắc dân tộc. Hồi Thơ mới xuất hiện, các nhà nho cực lực phản đối cho rằng nó là thứ ngoại lai nghịch nhĩ. Nhờ những người đi tiên phong thời ấy như Phan Khôi, Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mạc Tử, Chế Lan Viên… mà chúng ta có được một gia tài thơ mới đáng tự hào. Suốt 30 năm chống “văn hoá thực dân mới” làm cho văn học nghệ thuật chúng ta gần như dừng lại ở nội dung giáo điều và hình thức thể hiện của thế kỷ 19. Sau khi mở cửa, người Việt Nam mới nhận ra nền văn học nghệ thuật của mình yếu kém đến thảm hại ! Sách dịch chiếm trọn tất cả các gian hàng của các nhà sách. Trên truyền hình, phim Hàn Quốc, Trung Quốc chiếm tất cả các kênh. Có người kêu lên chúng ta đang bị xâm lăng văn hoá ! Thanh thiếu niên Việt Nam đổ xô đi mua sắm thời trang sao cho quần áo, tóc tai giống như y các sao Hàn Quốc ! Sau đó, hàng trăm cô gái Việt Nam xếp hàng cho một anh Hàn Quốc sờ nắn chọn lựa !

*

Vấn đề xây dựng nền văn hoá hiện đại của dân tộc là công việc vô cùng lớn lao. Tôi không phải nhà nghiên cứu văn hoá mà chỉ có tấm lòng, đọc bài của ông Lữ Phương và các nhà văn hoá, nhà văn, lòng tôi thêm bức xúc, viết mấy bài này chỉ muốn kích thích thêm sự quan tâm của các bậc thức giả, hòng được nghe nhiều cao kiến.

Ngày 3 – 12 – 2010

TVC

Nguồn : Diễn Đàn

 

2 Thực ra thì từ lâu rồi chứ không phải chỉ mấy năm nay. Nhưng ở đây tác giả chỉ nói về việc “không trả lời” các thư, kiến nghị. Còn việc “tiếp thu” các ý kiến được phát biểu trong các thư, kiến nghị đó cũng như trên các phương tiện truyền thông, thì chắc phải đợi đến Tết Congo? (DĐ)

3 Người sáng tạo ra chiếc áo dài vẫn thường được biết là hoạ sĩ Nguyễn Cát Tường, người Hà Nội. Có lẽ tác giả nhầm chăng, vì ông Cát Tường hay dùng tên Pháp là Lemur (dịch chữ “tường” ra tiếng Pháp)? (DĐ)

5 thoughts on “Tống Văn Công : Chúng ta đang khủng hoảng văn hóa

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s