Bốn phe phái trong nền chính trị Việt Nam

Alexander L. Vuving *

Trung tâm Nghiên cứu An ninh Châu Á-Thái Bình Dương

Nền chính trị Việt Nam có những phe phái chính nào? Điều gì là đặc trưng cho những động lực của nền chính trị ấy? Nó sẽ như thế nào trong vài năm tới? Bài viết này cố gắng trả lời các câu hỏi trên. Bài đưa ra ý sau: Nền chính trị Việt Nam có thể được hình dung như một trò chơi giữa bốn phe phái chính. Nếu chính phủ được định nghĩa là nơi tập trung quyền lực chính trị của một nước, thì Chính phủ Việt Nam trước hết được hiểu là chế độ của phe bảo thủ, phe hiện đại, phe trục lợi và Trung Quốc. Mỗi phe là một khối các nhân vật khác nhau có chung khuynh hướng hay mục tiêu chiến lược cao nhất.

Sự khác biệt của ba khối cùng là người Việt này cần được giải thích sâu hơn. Tiêu chí để xếp ai đó vào một khối là sự ưu tiên hay khuynh hướng của người ấy trước một số vấn đề cơ bản như ý thức hệ (đất nước nên mở hay đóng cửa trước các tư tưởng tự do từ phương Tây) và quan hệ của Đảng Cộng sản (ĐSC) với dân tộc (Đảng ở cao hơn hay thấp hơn dân tộc). Phe bảo thủ là một khối thiên về lựa chọn chính sách “khép cửa” và “Đảng là số 1”; phe hiện đại chọn lựa chính sách mở cửa và vì tiền đồ của toàn dân tộc; phe trục lợi hướng đến bất kỳ cái gì mang lại cho họ nhiều lợi ích nhất.

Trong các bài diễn văn, giới lãnh đạo thường sử dụng ngôn từ hàng ngày, tuy nhiên cách họ nhấn mạnh những điểm nào đó sẽ bộc lộ lập trường của họ. Một nhân vật bảo thủ như nguyên Tổng Bí thư Đảng Lê Khả Phiêu có thể nhấn mạnh các ý “dân chủ trong nội bộ đảng”, “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” và Việt Nam như “một quốc gia hiện đại”, một “đối tác hữu nghị đáng tin cậy với những nước khác”, nhưng cách nhấn mạnh của ông Phiêu là dựa trên bản chất giai cấp, tương phản với bản chất của toàn dân tộc, nó vì những lợi ích cốt lõi của đảng, duy trì đặc tính “xã hội chủ nghĩa” của đất nước, và mâu thuẫn với phương Tây “tư bản và đế quốc. Hiện đại hoá, cải cách, dân chủ và hội nhập quốc tế, nếu được thực thi, chỉ là phương tiện để đi tới một mục đích cao hơn, và nếu cần, có thể hy sinh những phương tiện này. Mục đích cao hơn ấy là sự tiếp tục chế độ cộng sản. (1)

Một người thuộc phe hiện đại, như cố thủ tướng Võ Văn Kiệt, có thể cam kết duy trì “vai trò lãnh đạo của đảng” và xây dựng “chủ nghĩa xã hội” nhưng tầm nhìn của ông về đảng và chủ nghĩa xã hội hoàn toàn khác những người bảo thủ. Ông Kiệt và những nhân vật hiện đại khác trong ĐCS muốn một đảng coi lợi ích của toàn dân tộc là lợi ích của chính nó và định nghĩa xã hội chủ nghĩa là “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Chủ nghĩa yêu nước, chứ không phải chủ nghĩa Mác-Lênin, là lý tưởng ràng buộc và dẫn đường cho phe hiện đại. Trong khi phe bảo thủ như các tổng bí thư Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu và Nông Đức Mạnh đều quả quyết rằng “độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội” (nghĩa là biệt lập khỏi những ảnh hưởng tự do, ảnh hưởng phương Tây, đồng thời duy trì các đặc trưng cộng sản và sự cai trị của cộng sản) là những nguyên tắc cơ bản của chính sách Việt Nam, ông Kiệt trong một lá thư mật gửi tới Bộ Chính trị ĐCS vào tháng 8/1995 đã thay thế những cụm từ ấy bằng “dân tộc và dân chủ”. (2) Mặc dù những nhân vật tinh hoa theo phe hiện đại không thể tán thành dân chủ đa đảng vì đây là điều cấm kỵ, nhưng phe này ủng hộ cải tổ chính trị nhiều hơn, sâu hơn nhằm mở rộng dân chủ và tăng cường tính hiệu quả.

Phe trục lợi là những nhà cơ hội, tìm kiếm lợi ích tối đa thường có được nhờ những đặc quyền do chính phủ ban cho; không quan tâm tới khái niệm lợi ích dân tộc dù là theo định nghĩa của phe bảo thủ hay phe hiện đại. Như phần sau sẽ chỉ ra, phe trục lợi ở Việt Nam là một nhóm đặc biệt gồm những người mưu tìm lợi nhuận, và họ mạnh hơn phe hiện đại cũng như phe bảo thủ nhờ có một thế lực độc quyền hậu thuẫn.

Cả ba khối này – bảo thủ, hiện đại và trục lợi – đều hiện diện ở cả trong và ngoài đảng cầm quyền và chính phủ, và họ hiện diện ở mọi cấp hoạch định chính sách. Những con đường sai lầm mà họ chọn trải dài qua nhiều thế hệ, khu vực và định chế. Phần lớn các nhà lãnh đạo Việt Nam thường giữ lập trường ít nhiều thống nhất trong một khối, nhưng cũng có một số người chuyển từ phe này sang phe khác và những người khác thì khó nhận biết hơn. Những nhân vật bảo thủ nổi bật gồm các Tổng Bí thư Đỗ Mười (1991-97), Lê Khả Phiêu (1997-2001), Nông Đức Mạnh (2001 đến nay), và nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh (1992-1997). Phe hiện đại hiện diện mạnh mẽ hơn trong đội ngũ lãnh đạo cao cấp thông qua các gương mặt cố Bộ trưởng Ngoại giao Nguyên Cơ Thạch (1982-1991), cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt (1991-1997) và nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An (2001-2006), và các nhân vật ít tạo dấu ấn hơn như cựu Chủ tịch nước Võ Chí Công (1987-1992) và nguyên Thủ tướng Phan Văn Khải (1997-2006). Nguyên Chủ tịch nước Trần Đức Lương (1997-2006) có thể coi là thuộc phe trục lợi. Cố Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh (1986-1991) đã thay đổi, chuyển từ phe hiện đại sang phe bảo thủ vào năm 1989. Và Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết (2006 đến nay) là người khó nhận biết là theo phe nào.

Chính trị Việt Nam diễn ra trên bốn bình diện lớn – kinh tế, chính trị trong nước, quan hệ nhà nước – xã hội, và quan hệ đối ngoại. Động lực (tức yếu tố kích thích sự thay đổi – ND) của nó trong mỗi lĩnh vực ấy đều có một đặc trưng riêng biệt. Trên mặt trận kinh tế, động lực ấy là sự khủng hoảng của mô hình phát triển kiểu Việt Nam. Ở trung tâm của nền chính trị trong nước, động lực ấy là một hợp lưu giữa ba dòng: tiền, quyền và tác động từ thế giới, hoặc nói một cách tao nhã hơn, đó là ba dòng lợi ích, quyền lực và tiền đồ bên ngoài. Sự nổi lên của xã hội dân sự, đặc biệt là khối dân sự tinh hoa dòng chính thống, ngày càng tạo nên một xu thế trong quan hệ nhà nước – xã hội. Trong lĩnh vực địa chính trị, tâm điểm của chính trị Việt Nam nằm ở những nỗ lực hòng đạt được sự tự lực tự cường trên vùng sân sau của Trung Quốc.

Năm 2009 đã ghi nhanh tình hình chính trị Việt Nam với bốn phe chính và những đặc điểm của các động lực trong nền chính trị ấy. Phần thảo luận tiếp sau đây sẽ phác thảo nên một số nét của chính trị Việt Nam thông qua việc xem xét bốn phe phái chính cùng bốn đặc điểm, được minh họa bằng những sự kiện và quá trình trong suốt năm 2009.

Nơi hội tụ của  Lợi ích, Quyền lực, và Tiền đồ

Từ khi khởi động phong trào đổi mới vào năm 1986, Việt Nam đã thể nghiệm một sự pha trộn chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa tư bản. Thử nghiệm này là một cuộc chung đụng đầy mâu thuẫn giữa hai đường lối chủ đạo do hai khối theo đuổi, hai khối này có thể gọi là “phe bảo thủ” và “phe hiện đại”. Tôi gọi họ thế bởi lẽ mục tiêu trọng tâm của phe bảo thủ là duy trì chế độ cộng sản trong khi mục tiêu của phe hiện đại là hiện đại hóa đất nước bằng cách đưa vào các yếu tố tư bản và tự do chủ nghĩa. (3) Mặc dù có một thực tế là hai khối này đại diện cho hai đường lối chủ đạo cùng cai trị đất nước, nhưng nền chính trị Việt Nam không phải chỉ gồm hai phe bảo thủ và hiện đại. Quá trình “chung đụng” đã tạo ra một khối thứ ba, tận dụng cái hỗn hợp nói trên và có khả năng thích ứng cao với môi trường “nước lợ”. Khối thứ ba nỗ lực duy trì hỗn hợp tư bản-cộng sản chủ nghĩa để hậu thuẫn cho đường lối của họ. Vì chủ nghĩa tư bản đem đến cơ hội kiếm tiền, còn chủ nghĩa cộng sản mang lại độc quyền quyền lực, nên hỗn hợp của cả hai sẽ tạo điều kiện vừa có lợi cho việc dùng tiền để mua quyền, vừa có lợi cho việc dùng quyền để kiếm tiền. Khối thứ ba này, có thể được gọi bằng cái tên “phe trục lợi”, dùng tiền để thao túng nền chính trị, và một khi đã có cửa vào vị trí quyền lực trong ĐCS, họ sẽ sử dụng độc quyền về chính trị để tạo siêu lợi nhuận. (4) Không giống như phe bảo thủ và phe hiện đại, phe trục lợi không theo chủ trương đường lối nào; họ chỉ đi theo động cơ lợi nhuận.

Khi sự đồng tồn tại chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa tư bản trở thành đặc trưng của nền chính trị Việt Nam, thì bằng trực giác, có thể nghĩ rằng hầu hết xung đột chính trị ở Việt Nam đều diễn ra dọc cái trục bảo thủ chống hiện đại. Tuy nhiên, mô hình như vậy không chính xác. Không chính xác bởi vì nó đã bỏ qua phe trục lợi, mà trong nhiều trường hợp đó mới là những nhân vật chủ chốt; hoặc nó đã chỉ coi đám ấy như những kẻ mưu kiếm tiền – những người mà theo suy luận thông thường, hẳn phải thích chủ nghĩa tư bản hơn chủ nghĩa cộng sản. Mà nếu thế thì trong mô hình này, phe trục lợi có xu hướng ngả về phía phe hiện đại hơn là về phe bảo thủ. Tuy vậy, trên thực tế, các nhân vật thuộc phái trục lợi ở Việt Nam có xu hướng đi cùng phe bảo thủ khi nào cần tiếp tục độc quyền lãnh đạo của ĐCS, và đi cùng phe hiện đại khi nào cần cho phép các đảng viên sở hữu những tài sản lớn và điều hành công ty tư bản. Phe trục lợi là một loài chuyên sống ở “vùng nước lợ” – chủ nghĩa trọng thương dưới chế độ cộng sản. Được độc quyền lãnh đạo của ĐCS hậu thuẫn, họ rõ ràng là mạnh hơn hẳn những người chỉ mưu kiếm tiền thuần túy. Với sự tồn tại của phe thứ ba này, nền chính trị Việt Nam, ở một chừng mực nào đó là sự tranh chấp giữa phe bảo thủ và phe hiện đại, nhưng ở một chừng mực khác lại là ngã ba hợp lưu ba dòng lợi ích, quyền lực, và tiền đồ. (5)

Năm 2009 chứng kiến hợp lưu ba dòng lợi ích, quyền lực, và tiền đồ qua một vài vụ việc, trong đó hai vụ có thể nói là rất nổi bật. Vào ngày 19/11, Tòa phúc thẩm tỉnh Cần Thơ tuyên y án sơ thẩm hồi tháng 8 đối với bị cáo Trần Ngọc Sương, được biết đến với tên gọi “bà Ba Sương”, vì tội lập quỹ giao dịch ngoài sổ sách. Là cựu giám đốc Nông trường quốc doanh Sông Hậu, từng được Chính phủ trao tặng danh hiệu Anh hùng Lao động, bà Sương bị kết án 8 năm tù, buộc bồi thường 4,3 tỷ đồng (tương đương 240.500 USD). Bản án gây phẫn nộ trong dư luận, vài quan chức cấp cao và nhân vật có danh phận lên tiếng ủng hộ bà Sương. Nguyên phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình, một nhà bảo thủ, nói bản án đối với bà Sương là “bất công” bởi bà Sương đã “cống hiến cả đời mình cho cuộc sống của hàng nghìn nông dân” và bà “lập quỹ không vì mưu lợi cá nhân”, một chân dung từng được những tờ báo có tư tưởng đổi mới dựng nên và còn được xác nhận bởi nhà báo Huy Đức, người đã viết bài về Nông trường Sông Hậu và bà Sương trong nhiều năm. Báo chí cũng viết rằng Nông trường Sông Hậu được Chính phủ tặng hai Huân chương Lao động và coi như một điển hình của chủ nghĩa xã hội – nơi nhà nước giữ quyền sử dụng đất nhưng cung cấp phúc lợi tương đối tốt.

Mặc dù cơn thịnh nộ của công chúng được khuấy lên chủ yếu do khía cạnh đạo đức của vụ việc, nhưng người ta cũng hy vọng rằng chính quyền xã hội chủ nghĩa sẽ can thiệp để cứu lấy một vị anh hùng trong sự nghiệp của chế độ. Nhưng chính quyền đã không làm thế. Trên thực tế, đại diện của bà Sương tại tòa án là những luật sư có tư duy đổi mới và sự ủng hộ của công chúng dành cho bà cũng do cánh báo chí đổi mới huy động. Còn chính quyền đã làm gì? Tòa án nhận chỉ thị từ lãnh đạo đảng ủy Cần Thơ, và sau vài tuần đưa tin ồ ạt, giới truyền thông được lệnh phải chấm dứt nói về vụ án bà Sương. Trước đó, trong hậu trường, cơ quan chính quyền tỉnh Cần Thơ vốn đã có quyết định phân bổ đất của Nông trường Sông Hậu cho một dự án khu công nghiệp và khu đô thị. Phó Bí thư tỉnh ủy Cần Thơ Phạm Thành Vận được ghi âm đã nói câu này với bà Sương: “Chị sẽ về hưu và hạ cánh an toàn nếu chị trả lại đất của nông trường [cho thành phố]”. (6)

Vụ việc thứ hai liên quan đến Jetstar Pacific Airline (JPA), một liên doanh giữa Công ty Đầu tư Vốn Nhà nước (SCIC) với hãng hàng không Qantas của Australia, trong đó doanh nghiệp nhà nước của phía Việt Nam (DNNN) sở hữu 70% cổ phần, chiếm đa số. Cuối năm 2009, tranh cãi bùng nổ sau khi một cuộc điều tra của Cơ quan Kiểm toán Nhà nước cho thấy các giám đốc điều hành của JPA gây thua lỗ tới 31 triệu USD trong một thương vụ mua xăng, thế nhưng họ lại kiếm được nhiều hơn giám đốc điều hành của các DNNN tương tự. Tranh cãi cũng kéo theo một số nghi vấn về mức lương cao bất thường của các giám đốc điều hành SCIC. Đầu tháng 12, ông Lương Hoài Nam, nguyên giám đốc điều hành JPA kiêm quan chức cấp cao của SCIC, bị công an bắt do có dính líu vào thương vụ mua xăng, trong khi hai giám đốc điều hành người Úc của JPA bị cấm xuất cảnh khỏi Việt Nam.

Tiền thân của JPA là Pacific Airlines (PA), một liên doanh trong nước, trong đó hãng vận tải quốc doanh Vietnam Airlines (VNA) nắm phần lớn cổ phần. Được thành lập năm 1990, PA là hiện thân cho nỗ lực của phe hiện đại muốn tạo ra một mức độ cạnh tranh nhất định trong ngành hàng không của Việt Nam. Tuy nhiên, duy trì yếu tố cạnh tranh này tỏ ra là một việc khó. Sau 10 năm hoạt động, PA công bố lỗ chồng chất tới hơn 10 triệu USD. (7) Mặc dù là công ty con của VNA, song có tin PA không được công ty mẹ chào đón lắm.

Vị thế độc quyền của hãng vận tải quốc doanh này trở thành một thực tế khó nhằn đối với công ty kế nhiệm PA. Có thể thấy hợp lưu ba dòng lợi ích, quyền lực và tiền đồ trong vụ này, theo một bài báo trên tờ Herald Sun:

[Vào giữa năm 2009]. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng buộc phải can thiệp khi nguồn cung xăng máy bay bị cắt đứt do Vietnam Airlines không cho đội xe của mình tiếp tế nhiên liệu cho Jetstar Pacific. Loạt rắc rối mới nhất với Jetstar Pacific bắt đầu tháng 7 năm đó khi công ty báo cáo tháng đầu tiên có lợi nhuận sau suốt 18 năm vận hành (mà hồi ban đầu là dưới tên gọi Pacific Airlines). Khi ấy, Bộ Giao thông Vận tải liền ra lệnh cho Qantas bỏ tên Jetstar và bỏ thương hiệu màu cam nổi bật khỏi hạm đội 6 chiếc Jetstar, họ bảo như thế “Úc quá”. (8)

Nhà quan sát kỳ cựu Carlyle Thayer phân tích:

Vấn đề nảy sinh là do thành công của Jetstar Pacific vào giữa năm 2009, khi hãng này lại làm ăn có lãi sau khi đã cắt giảm chi phí và tăng thị phần (18% lên 25%) làm Vietnam Airlines phải thua thiệt. Hoạt động đẩy mạnh một cách quyết liệt việc bán vé giá rẻ của Jetstar Pacific đã làm người ta khó chịu. Tôi nhìn thấy một sự tương đồng với vụ ANB-AMBRO năm 2006 khi một ngân hàng quốc doanh để thua lỗ trong những vụ đổi tiền. Ở đây, trong vụ Jetstar Pacific thì Tổng Công ty Đầu tư Vốn Nhà nước thua lỗ vì một thương vụ thực hiện phòng ngừa rủi ro về xăng dầu (fuel hedging). Trong cả hai vụ việc, an ninh điều tra/ công an đã hình sự hóa hoạt động quản trị kinh doanh và hình sự hóa việc ra những quyết định sai lầm. Người Hà Lan đã trả vài triệu để thoát trách nhiệm, và tôi hồ nghi việc Qantas/Jetstar sẽ phải chi một khoản phạt hay bồi thường nào đó, do vậy SCIC, một doanh nghiệp nhà nước, sẽ không được miễn thuế… Rõ ràng là có một nhóm lợi ích thuộc doanh nghiệp nhà nước trong công việc. Đây là chuyện phải lấy được tiền ra khỏi Qantas khi các nhân viên trong nước của họ tiến hành nghiệp vụ hedging và thua lỗ vì giá xăng. Điều này ảnh hưởng tới Tổng Công ty Đầu tư Vốn Nhà nước, vốn là cổ đông chính trong Jetstar. (9)

Khủng hoảng mô hình tăng trưởng

Trong hai thập niên qua, hợp lưu ba dòng lợi ích, quyền lực, và tiền đồ, ở một nước Việt Nam thời kỳ đổi mới đã tạo ra một đường lối kinh tế làm lợi nhiều nhất cho phe trục lợi. Trong giai đoạn đầu của nó, con đường do đồng tiền dẫn dắt này đi song song với con đường do lao động dẫn dắt, và đã trình diễn những mô hình tăng trưởng đáng chú ý. Vào năm 2005, ấn tượng trước các thành tựu tăng trưởng của Việt Nam trong thập niên trước đó, Goldman Sachs đã coi Việt Nam là một trong “11 Quốc Gia Kế Tiếp” có tiềm năng tạo được ảnh hưởng giống như khối BRIC trong việc cạnh tranh với G7. (10) Nghiên cứu của Goldman Sachs cho rằng vào năm 2025 Việt Nam có thể trở thành nền kinh tế lớn thứ 17 trên thế giới và vào năm 2050 thì đứng vị trí thứ 15. Những dự báo này dựa trên tiền đề “các nền kinh tế đó có thể tiếp tục đi con đường hiện tại của họ”. (11) Nhưng chẳng bao lâu sau khi các báo cáo được công bố, mô hình tăng trưởng của Việt Nam đã bộc lộ nhiều dấu hiệu cho thấy các vấn đề nghiêm trọng. Suốt trong năm 2008, tỷ lệ lạm phát tăng vọt lên mức hơn 20%, buộc chính phủ phải hãm phanh đối với chính sách ưu tiên tăng trưởng và đổi số sang chương trình chống lạm phát. Rất tương ứng với dự đoán của chúng tôi trong bài này, các bong bóng vỡ tung khi cơn sốt đầu tư tiếp sau việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) va đập với các nút cổ chai của hệ thống hành chính, các thiết chế, cơ sở hạ tầng, và giáo dục của đất nước. (12) Nổi lên trên tất cả những cái đó là cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, bắt đầu cùng vào năm ấy.

Là một nền kinh tế mà giá trị ngoại thương nhiều hơn tổng sản phẩm quốc nội xấp xỉ 1,5 lần, Việt Nam bị ảnh hưởng rất nặng từ cuộc khủng hoảng toàn cầu. Đầu tư nước ngoài sa sút mạnh và thị trường nước ngoài cho sản phẩm của Việt Nam bị thu nhỏ. Khối lượng đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) được cấp phép trong năm 2009 là 21,5 tỷ USD, thấp hơn 70% so với năm trước đó. Lượng FDI được giải ngân trong năm 2009 ước đạt 10 tỷ USD, giảm 13% so với năm 2008. Xuất khẩu của Việt Nam năm 2009 ước tính đã sụt giảm 9,7% xuống còn 56,6 tỷ USD, trong khi nhập khẩu giảm 14,7% xuống còn 68,8 tỷ USD. Phần đáng kể trong mức suy giảm xuất khẩu của Việt Nam trong năm 2009 là do những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của đất nước bị giảm giá bán, như dầu, gạo, cà phê, than. Kim ngạch xuất khẩu dầu thô của Việt Nam, vốn chiếm 11% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước, ước tính đã giảm 40% mặc dù khối lượng xuất khẩu chỉ giảm có 2,4%. Năm 2009, Việt Nam ghi nhận kỷ lục về xuất khẩu gạo và một mức tăng trưởng 25,4% cả năm về khối lượng, nhưng giá trị, chiếm 4,8% trong tổng xuất khẩu, đã giảm 8%. Cũng vậy, xuất khẩu cà phê, chiếm 3% tổng kim ngạch xuất khẩu, tăng 10,2% về khối lượng nhưng giảm 19% về giá trị, và xuất khẩu than, chiếm 2,3%, giảm 4,5% về giá trị bất chấp mức tăng 29,9% về khối lượng. (13)

Khủng hoảng kinh tế gây ra một cuộc tranh cãi mới về định hướng chủ đạo trong các chính sách kinh tế của Việt Nam. Đối với phe bảo thủ, khủng hoảng hiện tại là bằng chứng rõ ràng cho thấy vai trò giám sát và kiểm soát của Nhà nước có tính quyết định đối với sự vận hành của nền kinh tế. Phe bảo thủ cũng ca ngợi tính ưu việt của hệ thống độc đảng trong việc vượt qua khủng hoảng. Họ lập luận rằng độc đảng giúp huy động tối đa nguồn lực và tạo sự đồng thuận vào thời điểm những điều này là cần thiết nhất mà lại thường khó đạt được nhất. Các quan điểm như vậy được bộc lộ chẳng hạn trong những phát biểu của ông Tô Huy Rứa, Trưởng ban Tuyên giáo của Đảng, tại hội nghị lý luận lần thứ năm giữa hai đảng cộng sản Trung-Việt, tháng 12/2009. Nhưng nhà tuyên truyền hàng đầu của Đảng, người đã được bầu vào Bộ Chính trị tại phiên họp toàn thể lần thứ 9 của Ban Chấp hành TW Đảng hồi tháng 1/2009, không phải là nhân vật đại diện cho các quan điểm của riêng phe bảo thủ. Lặp lại lời của phe hiện đại, ông Rứa công nhận rằng khủng hoảng đem lại một cơ hội tái cấu trúc nền kinh tế và ông ta đoan chắc rằng việc tái cấu trúc phải nhằm hướng tới một mô hình tăng trưởng mới dựa vào “lợi thế cạnh tranh năng động” và đưa vào khái niệm “phát triển bền vững”. Tư duy mới này về phát triển là nhằm giảng hòa giữa ba mục tiêu tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội, và thân thiện với môi trường. (14)

Bề ngoài, để tránh các vấn đề gây nhiều tranh cãi, diễn văn của ông Rứa không nhắc gì tới vai trò của các doanh nghiệp nhà nước (DNNN), vốn là điểm mấu chốt trong cuộc tranh cãi giữa phe bảo thủ và phe hiện đại. Phe bảo thủ muốn giữ vai trò chủ đạo của khu vực nhà nước trong nền kinh tế. Họ chủ trương rằng, nền kinh tế quốc dân phải dựa vào các DNNN như là trụ cột, DNNN nào lớn nhất thì sẽ đóng vai trò như “quả đấm thép” của quốc gia – cạnh tranh mạnh mẽ trên thị trường quốc tế và là một công cụ quản lý hùng mạnh, cả trong kinh tế lẫn trong chính trị. Không như các đơn vị tư nhân, DNNN phải tuân lệnh Đảng và Nhà nước, và phải đáp ứng những nhiệm vụ chính trị do Đảng và Nhà nước đặt ra. Đổi lại, các DNNN có được sự ưu đãi về chính sách, tín dụng, đất đai và các nguồn lực khác mà Nhà nước sở hữu. Sự nhập nhằng giữa Nhà nước và các công ty riêng của nó thể hiện trong việc các vị quan chức trong tập đoàn (conglomerate) Nhà nước lớn nhất đều là ủy viên Ban Chấp hành TW Đảng – cơ quan mà xét về địa vị, vốn là cơ quan chính sách có quyền lực cao nhất nước giữa hai kỳ đại hội Đảng. (15)

Tuy vậy, phe hiện đại lại coi các tập đoàn nhà nước như “những con khủng long trong một nền kinh tế vị thành niên”. (16) Họ chỉ ra rằng các doanh nghiệp này đã thất bại trong việc trở thành những quả đấm thép của quốc gia – không vươn lên mạnh mẽ trong cạnh tranh quốc tế mà cũng chẳng hoàn thành nhiệm vụ chính trị. Thay vì thế, chúng ra sức tận dụng và duy trì những đặc quyền đặc lợi và địa vị độc quyền được Nhà nước thừa nhận – vì lợi nhuận của riêng chúng. Hậu quả là, chúng trở thành những nhà sản xuất kém hiệu quả và tham nhũng. (17) Tái cấu trúc các DNNN, do đó, là vấn đề trung tâm trong chương trình nghị sự của phe hiện đại. Cụ thể, phe hiện đại đòi thay đổi cấu trúc sở hữu của SOE theo hướng tư nhân hóa nhiều hơn. Đánh giá tình hình hiện nay, phe hiện đại lập luận rằng mô hình tăng trưởng của Việt Nam đã đạt tới đỉnh và tái cấu trúc là chìa khóa để vượt qua khủng hoảng cũng như tránh cái bẫy thu nhập trung bình. Nhiều người theo phe hiện đại nhất trí rằng đây phải là một cuộc tái cấu trúc toàn diện bao gồm cả biến đổi cơ cấu sở hữu các DNNN, lẫn cải cách các định chế và điều lệ kinh tế, tái cấu trúc thị trường và doanh nghiệp nội địa. (18)

Chính phủ cố gắng kết hợp quan điểm của cả hai phe hiện đại và bảo thủ. Tuy nhiên, họ tập trung chủ yếu vào giải quyết các vấn đề ngắn hạn có thể đe dọa quyền lực của mình. Khi khủng hoảng toàn cầu nổi lên, chính phủ nhanh chóng sang số từ chống lạm phát thành chống suy thoái (tháng 12-2008). Phản ứng chủ đạo của họ là thực hiện một gói kích cầu với chi phí lên tới 8 tỷ USD. Khi nền kinh tế bộc lộ những dấu hiệu hồi phục và bóng ma lạm phát có nguy cơ quay lại, chính phủ phá giá tiền đồng xấp xỉ 5% so với đô-la Mỹ, làm tăng lãi suất chuẩn của ngân hàng trung ương lên 8%, và chấm dứt chương trình kích cầu sớm hơn dự định (cuối tháng 11, đầu tháng 12/2009). (19) Với tỷ lệ tăng trưởng 5,32%, Việt Nam nổi bật, cùng với Trung Quốc, Indonesia và Campuchia, như một trong số rất ít nền kinh tế ở Đông Á tăng trưởng hơn 2% trong năm 2009.

Tuy nhiên, Việt Nam đã phải trả một cái giá cao cho thành công ngắn hạn của mình. Việt Nam là một trong số ít nước vừa có thâm hụt ngân sách vừa bị thâm hụt cán cân vãng lai. (20) Nhất là, chính phủ lại chịu thâm hụt ngoại thương khổng lồ suốt hơn một thập niên. Cùng lúc đó, như chính Thống đốc Ngân hàng Trung ương Việt Nam thừa nhận, nợ nước ngoài của Việt Nam đã tăng mạnh vào năm 2009 so với các năm trước đó. Quỹ Tiền tệ Quốc tế đánh giá nợ nước ngoài của Việt Nam ở mức một phần ba tổng sản phẩm quốc nội (GDP), còn Ủy ban Ngân sách và Tài chính của Quốc hội cho rằng tổng nợ của chính phủ chiếm tới 44,6% GDP. (21) Sự hội tụ tất cả các yếu tố này gây ra một tình thế lưỡng nan cho chính phủ. Thâm hụt cả ba mặt gây áp lực khổng lồ khiến tiền đồng suy yếu. Sự mất giá thê thảm của tiền đồng có thể làm tăng xuất khẩu và giảm nhập siêu nhưng cũng có thể gây những tác động tâm lý tiêu cực và làm các khoản nợ nước ngoài lớn thêm. Nhưng duy trì giá trị danh nghĩa cao của tiền đồng quá lâu có thể vắt kiệt dự trữ ngoại tệ vốn đã eo hẹp. Các nhà phân tích ước tính lượng đô-la bán ra trong năm 2009 nhằm ổn định tiền đồng đã thu hẹp dự trữ ngoại tệ của Việt Nam xuống còn 16,5 tỷ USD, chỉ đủ cho không đầy ba tháng nhập khẩu. Bên ngoài khu vực, các láng giềng của Việt Nam như Trung Quốc, Hàn Quốc, Thái Lan thì đã tăng đáng kể dự trữ của họ. (22)

Tỷ lệ tăng trưởng tương đối cao của Việt Nam làm bộc lộ những điểm kém hiệu quả đáng buồn nản. Năm 2009, hệ số sinh lời từ gia tăng vốn đầu tư (ICOR), chỉ số đo độ kém hiệu quả của chi tiêu đầu tư, tăng vọt lên mức 8,05 so với mức 6,92 của năm 2008 và 4,76 của 2007. (23) Những con số này cao hơn hẳn so với những nước tăng trưởng nhanh khác trong giai đoạn đầu tư trước khi tới đỉnh của họ. Ví dụ, ICOR của Nhật Bản vào thập niên 1960 và của Hàn Quốc vào thập niên 1980 chỉ hơn 3. Gần đây hơn là Trung Quốc, ICOR của họ tăng từ 3 trong những năm 90 của thế kỷ trước lên gần 4, mức trung bình của giai đoạn từ 2001 tới 2008, và được dự đoán là khoảng 6,7 vào năm 2009. (24) Chỉ số ICOR quá cao của Việt Nam cho thấy mức tăng trưởng kinh tế của quốc gia được dẫn dắt chủ yếu nhờ mở rộng vốn đầu tư, chứ không phải do tăng năng suất. Nếu Việt Nam tiếp tục đi con đường hiện nay, không chắc nền kinh tế sẽ cất cánh được như dự án của Goldman Sachs đã nói, và suy sụp là rất có thể.

(Còn tiếp 1 kỳ)

Người dịch: Đan Thanh

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2011

* Cùng tác giả: Đại chiến lược hai hướng.

Chú thích:

Tác giả cảm ơn Ben Kerkvliet, Steven Kim, Daljit Singh, và Carlyle Thayer vì những nhận xét có giá trị của họ, và cảm ơn sự giúp đỡ hiệu quả của Kylee Kim. Các quan điểm thể hiện trong bài này là của tác giả.

(1) Lê Khả Phiêu, “Đảng Cộng sản Việt Nam tám mươi xuân”, Nhân Dân, 3/2/2010 <http://www.nhandan.com.vn/tinbai/?top=37&sub= 130&article= 167420>.

(2) Võ Văn Kiệt, “Thư gửi Bộ Chính trị “, 9/8/1995, Diễn Đàn, số 48 (tháng 1/1996): 16-25. Về sự kiên định của ông Phiêu theo đường lối “độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”, xin xem bài viết của ông, đã dẫn.

(3) Trong các bài viết trước đây, tôi gọi hai đường lối chủ lực của Việt Nam là “chống đế quốc” và “hội nhập”. Những tên gọi này muốn nói đến định hướng chính sách đối ngoại trung tâm của hai đường lối lớn đó. Tôi đặt tên như vậy bởi lẽ các bài viết trước đây của tôi chủ yếu nói về chính sách đối ngoại của Việt Nam.

(4) Trục lợi là một hành vi tìm kiếm lợi ích đặc biệt, tạo ra lợi ích chủ yếu nhờ đặc quyền đặc lợi và các luật lệ có ảnh hưởng do chính phủ ban hành.

(5) Tham khảo một thảo luận khác về sự giao thoa giữa lợi ích và quyền lực ở nước Việt Nam cộng sản: Bill Hayton, “Vietnam’s New Money”, Foreign Policy, 21/1/2010

<http://www.foreignpolicy.com/articles/2010/01/21/vietnams_new_money&gt;.

(6) Thông tin nền, xem “As Clamor against Suong Verdict Grows, Officials

Vow to Dig for Truth”, VietNamNet Bridge, 27/11/2009 <http://english.

vietnamnet.vn/reports/200911 /As-clamor-against-Suong-verdict-grows-officials-vow-todig-for-truth-881145/>; “NA Committee May Intervene in Labour Hero Case, Security

Minister Orders Report”, VietNamNet Bridge, 24/11/2009 <http://english.

vietnamnet.vn/reports/200911/NA-Committee-may-intervene-in-labour-hero-case-

Security-minister-orders-report-880585/>; Huy Đức, “Sau bà Ba Sương là các nông trường viên”, Blog Osin, 1-12-2009 <http://www.blogosin.org/?p=%5D074&gt;.

(7) Dinh Thang, “Pacific Airlines thành Jetstar Pacific: Nhiều lận đận”, Tien Phong, 11/1/2010 <http://www.tienphong.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=183030&ChannelID=2&gt;.

(8) Geoff Easdown, “Power Struggle Strands Execs”, Herald Sun (Australia), 11/1/2010 <http://www.heraldsun.com.au/business/power-struggle-strands-execs/storye6frfh4f-1225818205174&gt;.

(9) Thông tin cá nhân, 16/1/2010.

(10) Goldman Sachs Global Economic Group, BRICs and Beyond (Goldman Sachs, 2007), p. 131. BRIC là chữ viết tắt do Goldman Sachs đưa ra để chỉ một nhóm các nền kinh tế lớn đang nổi lên, gồm Brazil, Nga, Ấn Độ và Trung Quốc.

(11) Ibid., pp. 139, 140.

(12) Alexander L. Vuving, “Vietnam: Arriving in the World — and at a Crossroads,” Southeast Asian Affairs 2008, biên tập Daljit Singh và Tin Maung Maung Than

(Singapore: Institute of Southeast Asian Studies, 2008), pp. 375-77.

(13) Tổng cục Thống kê Việt Nam, “Tình hình kinh tế xã hội năm 2009”, 12/2009 <http://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=413&thangtk=12/2009&gt;.

(14) Tô Huy Rứa, “Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu và những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam”, Nhân Dân, 14/12/2009.

(15) Tham khảo một thảo luận về vai trò của DNNN, xem Vũ Quang Việt, “Vietnam Economic Crisis: Policy Follies and the Role of State-Owned Conglomerates”, in Southeast Asian Affairs 2009, biên tập Daljit Singh (Singapore: Institute of Southeast Asian Studies, 2009), pp. 389-417.

(16) Phan Thế Hải, “Đàn khủng long của nền kinh tế vị thành niên”, TuanVietNam, 12/11/2009 <http://tuanvietnam.net/2009-ll-10-dan-khung-long-cua-nen-kinh-te-vi-thanh-nien&gt;.

(17) Phạm Minh Trí, “Muốn chủ đạo phải tự thân”, TuanVietNam, 9/11/2009 <http://tuanvietnam.net/2009-ll-06-muon-chu-dao-phai-tu-than&gt;; Huy Đức, “Vẫn chưa hết những trở ngại cũ”. Phỏng vấn cựu Bộ trưởng Thương mại Lê Văn Triết, Sài Gòn Tiếp Thị, 25/5/2009 <http://www.sgtt.com.vn/detail23.aspx?newsid=51921&fld=HTMG/2009/

0524/51921>.

(18) Hoàng Phương, “Không tái cấu trúc quản lý, mọi nỗ lực khác là vô nghĩa”,

TuanVietNam, 19/5/2009 <http://tuanvietnam.net/khong-tai-cau-truc-quan-ly-moino-

luc-khac-la-vo-nghia>.

(19) Vu Trong Khanh và Patrick Barta, “Hanoi Tightens Reins on Credit”, Wall Street

yowrna/, 3/12/2009, p. A13.

(20) James Hookway và Alex Frangos, “Vietnam Devalues Its Currency”, Wall Street

Journal, 26/11/2009, p. 23.

(21) “Vietnam Acknowledges Growing Foreign Debt”, Deutsche Presse-Agentur,

17/11/2009.

(22) Hookway và Frangos, “Vietnam Devalues”.

———

Southeast Asian Affairs 2010

VIETNAM

A Tale of Four Players

Alexander L. Vuving

Who are the key players of Vietnamese politics? What characterizes its dynamics? What is to be expected of it in the next few years? This essay is an attempt to address the above questions. It suggests that the politics of Vietnam can be imagined as a game between four key players. If the govemment is defined as the central authoritative locus of politics in a country, then the Vietnamese Government is caught primarily between regime conservatives, modemizers, rent-seekers, and China. Each of these players is a bloc of diverse actors that share an ultimate strategic goal or inclination.

The distinction of the three Vietnamese blocs deserves further explanation. The criterion for sorting someone to a bloc is the person’s priority or inclination when it comes to fundamental issues such as ideology (whether the country should be open or closed to liberal ideas from the West) and the Communist Party’s relation to the nation (whether the party is superior or inferior to the nation). The conservative is one who is more likely to opt for a “closed door” and “party first” policy, the modemizer for openness and the whole-nation’s perspective, and the rent-seeker for whatever that brings him or her most money.

In their discourse, leaders often use the vocabulary of the day but their emphasis will reveal where they stand. A regime conservative, such as former General Secretary of the Vietnam Communist Party (VCP) Le Kha Phieu, may embrace the ideas of “intra-party democracy”, “socialist-oriented market economy”, and Vietnam as a “modern nation” and a “friend and reliable partner to other countries”, but his emphasis is on the class nature, as opposed to a whole-nation nature, of the party’s core interests, preserving the country’s “socialist” identity, and contrasting it with the “capitalist and imperialist” West. Modernization, reform, democracy, and intemational integration, if adopted, are only means to a higher end, and if necessary, can be sacrificed. That higher end is the continuation of the communist regirne.1

A modernizer, such as the late Prime Minister Vo Van Kiet, may vow  to maintain “the leadership role of the party” and build “socialism”, but his

visions of the party and socialism are completely different from those of the conservatives. Kiet and other modernizers within the VCP want a party that

regards the interests of the entire nation as its own and define socialism as “a rich people, a strong nation, and a just, democratic, and civilized society”.

Patriotism, not Marxism-Leninism, is the bonding and guiding idea of the modernizers. Whereas conservatives such as the VCP chiefs Do Muoi, Le Kha Phieu, and Nong Due Manh emphatically asserted that “national independence and socialism” (meaning insulation from Western and liberal infiuence plus communist rule and identity) are the fundamentals of Vietnamese policy, Kiet proposed in a classified letter to the VCP Politburo in August 1995 to replace them with “nation and democracy”.2 Although advocating multiparty democracy is impossible for mainstream elite modemizers because it is taboo, modernizers support more and deeper political reform to broaden democracy and enhance effectiveness.

Rent-seekers are opportunists who seek to maximize benefits, usually gained from govem men t-gran ted privileges; regardless of the national interest as defined by either the conservatives or the modemizers. As will be seen in the next section, Vietnam’s rent-seekers is a special group of profit-seekers that is more powerful than the latter because it has a monopolistic power in its back.

All the three key blocs — regime conservatives, modernizers, and rent- seekers — are present both in and outside the mling party and the government and represented at every echelon of policymaking. Their fault lines cut across generations, regions, and institutions. Most Vietnamese leaders stand more or less consistently within a bloc but some have changed blocs over time and others are more agnostic. Prominent conservatives include VCP General Secretaries Do Muoi (1991-97), Le Kha Phieu (1997-2001), Nong Due Manh (2001-present), and former State President Le Duc Anh (1992-97). The modernizers were represented in the top leadership more energetically by the late Foreign Minister Nguyen Co Thach (1982-91), the late Prime Minister Vo Van Kiet (1991-97) and former National Assembly Chairman Nguyen Van An (2001-6), and less markedly by former State President Vo Chi Cong (1987-92) and former Prime Minister Phan Van Khai (1997-2006). Former State President Tran Duc Luong (1997-2006) can be seen as a rent-seeker. The late VCP General Secretary Nguyen Van Linh (1986-91) changed from a modernizer to a conservative during 1989. And State President Nguyen Minh Triet (2006-present) is an agnostic.

The politics of Vietnam is played out on four major planes — the economy, core domestic politics, state-society relations, and foreign elations. Its dynamics in each of these areas shows a distinct feature. The one on the economic front is the crisis of Vietnam’s growth model. At the core of domestic politics, there is the confluence of money, power, and world views, or to put it more elegantly, profit, power, and perspectives. The emergence of civil society, especially mainstream elite civil society, is increasingly setting the trend in state-society relations. In the geopolitical arena, a central focus of Vietnam’s politics lies in efforts to self-help in China’s backyard.

The year 2009 offered telling snapshots of Vietnam’s politics with regard to its key players and the features of its dynamics. The discussion below will outline some contours of Vietnamese politics through an examination of its four players and four features, illustrated by events and developments throughout 2009.

The Confluence of Profit, Power, and Perspectives

Since the launch of doi moi (renovation) in 1986, Vietnam has been experimenting with a mixture of communism and capitalism. This experiment is a conflict-ridden cohabitation of two grand strategies pursued by two camps that can be called the “regime conservatives” and the “modemizers”. I call them so because the central objective of the former is to preserve the communist regime whereas that of the latter is to modemize the country by introducing elements of capitalism and liberalism.3 Despite the fact that these two camps represent the co-ruling grand strategies, they are not the only key players of Vietnamese politics. The cohabitation hias created a third bloc that takes advantage of the mixture and is highly adaptive to that “brackish water” environment. The third bloc tries its best to maintain the communist-capitalist mixture that supports its way of life. As capitalism offers opportunities to make profit, while communism offers a monopoly of power, a mixture of the two creates conducive conditions for both using money to buy power and using power to make money. The third bloc, which can be called the “rent-seekers”, uses money to manipulate politics, and once having access to Communist Party power, uses the political monopoly to reap hyper-profits.4 Unlike the conservatives and the modemizers, the rent-seekers are not guided by vision; they are guided by profit motive.

As Vietnamese politics is characterized by a coexistence of communism and capitalism, it is intuitive to think that most political conflict in Vietnam can be seen along the conservative-versus-modemizer line. Yet this model is not accurate. It is not accurate because it either ignores the rent-seekers, which in many cases are key players, or regards them as just profit-seekers, who, as conventional wisdom suggests, prefer capitalism over communism. In this model, then, the rent-seekers will tend to side with the modemizers against the conservatives. In actuality, however, Vietnam’s rent-seekers tend to side with the conservatives when it comes to the continuation of Communist Party monopoly and with the modernizers when it comes to allowing party members to own large properties and operate capitalist businesses. The rent-seekers are a species specialized to live in the “brackish water” of commercialism under communist mle. With the power monopoly of the Communist Party in their back, they are markedly more powerful than other profit-seekers. Given the existence of that third bloc, the politics of Vietnam is, at one level, the contestation between regime conservatives and modernizers, but at another level, the confluence of money, power, and world views.5

The year 2009 revealed the confluence of profit, power, and perspectives through several affairs, two of which are arguably most prominent. On 19 November, the Can Tho City Appeals Court upheld a lower court verdict reached in August against Tran Ngoc Suong, popularly known as Mrs Ba Suong, on a charge of running an off-the-books welfare fund. A former Director of the state-owned Song Hau Collective Farm who was awarded the title of a Labour Hero by the govemment, Suong was sentenced to eight years in jail and ordered to repay some 4.3 billion dong (US$240,500). The verdicts caused a public outrage in which several high-ranking officials and prominent public personalities spoke out in support of Suong. Former vice-president Nguyen Thi Binh, a conservative, said that Suong’s sentencing was “unfair” as she had “devoted her whole life to improving the lives of thousands of farmers” and “maintained the fund not for her personal benefit”, a portrayal that was echoed by the reform-minded press and validated by the journalist Huy Due, who had reported on the Song Hau Farm and Mrs Suong for years. The news media also reported that the Song Hau Farm was awarded two Labour Medals by the govemment and regarded as a showcase of socialism where the state retained land-use rights but provided relatively good welfare services.

While the public outrage was mainly motivated by the moral aspect of the case, it was expected that the socialist state would intervene to support a hero of its cause. But it did not. In fact, Suong was represented at the court by reform-minded lawyers and the public support for her mobilized by reform-minded media. With regard to the state’s action, the court received instructions from the Can Tho City party leadership, and after a few weeks of intensive reporting. the media was ordered to stop talking about the case of Mrs Suong. Behind the scenes the Cah Tho City Government had decided to allocate the lands of the Song Hau Farm to an industrial park and urban project. The Deputy Secretary of the Can Tho City Party Committee, Pham Thanh Van, was recorded as telling Suong; “You will retire and land safely in good name if you return the lands of the farm [to the city]“.6

The second case involves Jetstar Pacific Airline (JPA), a joint venture of the State Capital Investment Corporation (SCIC) with the Australian airline Qantas in which the Vietnamese state-owned enterprise (SOE) owns the majority stake of 70 per cent. In late 2009, a controversy was sparked after a State Audit Agency probe of SCIC figured out that while JPA’s chief executives caused a loss of US$31 million in a fuel hedging business, they earned more than the executives of comparable SOEs. The controversy also involved questions about unusually high salaries for SCIC executives. In early December, Luong Hoai Nam, former JPA chief executive and a high-ranking official of SCIC, was detained by police for his involvement in the fuel hedge, while two Australian JPA executives were prevented from leaving Vietnam.

JPA’s predecessor was Pacific Airlines (PA), a domestic joint venture with the state flag carrier Vietnam Airlines (VNA) as the majority stakeholder. Established in 1990, PA represented an effort by modemizers to introduce a degree of competition in Vietnam’s aviation industry. However, the maintenance of this element of competition proved difficult. After ten years in operation, PA posted a cumulative loss of more than US$10 million.7 Although an offspring of VNA, PA was reportedly not welcome by its mother company.

The monopolistic position of the state flag carrier became a harder reality PA’s successor. The confluence of nfioney, power, and world views can be emed in a report by Herald Sun:

[In mid-2009]. Prime Minister Nguyen Tan Dung was forced to intervene when supplies of jet kerosene were cut of f when Vietnam Airlines stopped its tankers refuelling Jetstar Pacific’s fleet. Jetstar Pacific’s latest run  of problems started last July when it reported its first profitable month after 18 years of flying, initially as Pacific Airlines. At that time the Transportation Ministry ordered Qantas to strip the Jetstar name and distinctive orange branding of f the six-jet Jetstar Pacific fleet, claiming it ‘too Australian’.8

As veteran Vietnam watcher Carlyle Thayer argues, the issue was caused by Jetstar Pacific’s success after mid-2009 when it turned a profit after cutting costs and increasing market share (18 per cent to 25 per cent) at the expense of Vietnam Airlines. Jetstar Pacific’s aggressive promotion of cheap fares rankled. I see a parallel with the 2006 ANB-AMBRO case when a state bank lost money in currency conversions, in Jetstar Pacific’s case the State Capital Investment Corporation lost due to fuel hedging. In both cases Vietnamese security/police have criminalized business management and poor decisions. The Dutch paid several million to get off the hook and I suspect Qantas/Jetstar will have to pay a fine or compensation so SCIC, a state-owned enterprise, will not be out of pocket…. There is obviously a state-enterprise interest group at work. It is about getting money out of Qantas when their in-country staff hedged and lost on fuel prices. This affected the State Capital Investment Corporation which is a major shareholder in Jetstar.9

A Growth Model in Crisis

Over the last two decades, the confluence of money, power, and world views in reform-era Vietnam has resulted in an economic path that most benefits

rent-seekers. In its early stages, this capital-driven path was paralleled by a labour-driven path and showed remarkable growth pattems. Impressed by the country’s growth records in the previous decade, in 2005 Goldman Sachs identified Vietnam as one of the “Next Eleven” countries that “could potentially have a BRIC-like impact in rivalling the G7.”10 Goldman Sachs studies projected that in 2025 Vietnam could be the world’s seventeenth largest economy and in 2050 it could become the fifteenth. The projections were premised on the condition that “these economies can stay on their current paths”.11 But soon after the release of these reports, Vietnam’s growth model showed signs of serious problems. During 2008, the inflation rates surged to higher than 20 per cent, forcing the government to put the brakes on its growth-first policy and switch gears to an anti-inflationary programme. Much in line with our prediction on these pages, the bubbles blew up when the investment fever following Vietnam’s accession to the World Trade Organization (WTO) met with bottlenecks in the country’s administration, institutions, infrastructure, and education system.12 On top of that came the global financial crisis that started the same year.

An economy with foreign trade surpassing gross domestic product by roughly one and a half tirnes, Vietnam was hit hard by the global crisis. It dramatically reduced the amount of foreign investments and shrunk the size of foreign markets for Vietnamese products. The volume of foreign direct investments (FDI) approved in 2009 was US$21.5 billion, or 70 per cent less than the previous year. The amount of FDI that were disbursed in 2009 is estimated at US$10 billion, falling by 13 per cent from that of 2008. Vietnam’s exports in 2009 are estimated to have shrunk by 9.7 per cent to US$56.6 billion, while imports decreased by 14.7 per cent to US$68.8 billion. A significant part of the reduction of Vietnam’s exports in 2009 resulted froni lower prices of the country’s main export commodities such as oil, rice, coffee, and coal. Vietnam’s cmde oil export value, which accounts for 11 per cent of the nation’s total exports, is estimated to have plunged by 40 per cent though the export volume decreased only 2.4 per cent. In 2009, Vietnam registered a record volume of rice export and a year-to-year increase by 25.4 per cent in volume, but its value, which accounts for 4.8 per cent of the total exports, fell 8 per cent. Likewise, the coffee export, which accounts for 3 per cent of the total exports, rose by 10.2 per cent in volume but shrunk by 19 per cent in value, and the coal export, which accounts for 2.3 per cent, fell by 4.5 per cent in value despite an increase of 29.9 per cent in volume.’13

The economic crisis triggered a new round of debates on the fundamental directions of Vietnam’s policies. For regime conservatives, the cunent crisis is clear proof that the supervising and controlling role of the state is crucial to the functioning of the economy. Conservatives also praise the superiority of the one-party system in weathering crises. They argue that it helps maximize mobilization and create consensus at a time when these are most desirable but usually hard to attain. These views were aired, for example, in the remarks by To Huy Rua, who is Head of the Propaganda Department of the VCP, at the fifth Sino-Vietnamese ideology conference in December 2009. But the VCP chief propagandist, who was elected to the Politburo at the Ninth Plenum of the Party’s Central Committee in January 2009, did not represent the views of the conservatives only. Echoing the modernizers. Rua acknowledged that the crisis provides an opportunity to restructure the economy and contended that the restmcturing must be oriented towards a new growth model that is based on “dynamic comparative advantages” and incorporates the concept of “sustainable  development”. This new thinking on development is aimed at reconciling the three goals of economic growth, social fairness, and environment-friendliness.14

Apparently avoiding highly controversial issues, Rua’s speech remains silent on the role of the state-owned enterprises, which is a key point of contention between the conservatives and the modemizers. Regime conservatives want to retain the dominant role (vai tro chu dao) of the state sector in the economy. In their vision, the national economy rests on the SOEs as its.pillars, the biggest of which will serve as the nation’s “iron fists” — strong competitors in the international market and a powerful tool of governance, both economic and political. Unlike private entities, SOEs are to obey the party and the govemment and fulfil political tasks set by the party-state. In return, they have privileged access to policymaking, credit, land, and other resources owned by the state. The intertwinement of the state and its own companies is reflected in the fact that the board presidents of the largest state-owned conglomerates are members of the VCP Central Committee, which by statute is the most powerful policymaking body in the country during the time between the party congresses.’15

Modemizers, however, see the state-owned conglomerates as “dinosaurs in a juvenile economy”.16 They point out that these enterprises have failed to become the nation’s iron fists — neither have they emerged strongly in international competition, nor have they accomplished well the political tasks. Rather, they try to capitalize on and perpetuate their state-sanctioned privileges and monopolistic position — for their own profit. As a result, they become producers of inefficiency and corruption.17 Restructuring of the SOEs is thus a central point in the modemizers’ agenda. Particularly, modemizers urge to change the ownership structure of the SOEs towards more privatization. Assessing the present situation, modemizers argue that Vietnam’s growth model has reached its apex and restructuring is the key to both overcoming crises and avoiding the middle-income trap. Most modemizers agree that this should be a comprehensive restructuring that includes transforming the ownership structure of the SOEs, overhauling the economic institutions and regulations, and restructuring the domestic markets and enterprises.18

The government tries to combine the views of both the regime conservatives and the modemizers. Nevertheless, its focus is on fixing short-term problems which threaten its authority. When the global crisis arose, it quickly switched-gears from anti-inflation to anti-slowdown (December 2008). Its central response was a stimulus package that cost up to US$8 billion. When the economy showed signs of recovery and the spectre of inflation threatened to come back, the government devalued the dong by roughly 5 per cent against the U.S. dollar, increased the central bank’s benchmark interest rate to 8 per cent, and ended the stimulus programme earlier than expected (late November, early December 2009).19

With a 5.32 per cent growth rate, Vietnam stood out, alongside China, Indonesia and Cambodia, as one of only a few economies in East Asia that expanded more than 2 per cent in 2009.

However, Vietnam has paid a high price for this short-term success.

Vietnam is one of only a few countries with both a fiscal budget deficit and a current-account deficit.20 On top of that, the country has run a huge foreign trade deficit for more than a decade. At the same time, as the Govemor of Vietnam’s central bank acknowledged, the country’s foreign debt had risen dramatically in 2009 compared with recent years. The Intemational Monetary Fund places Vietnam’s extemal debt at one-third of the country’s gross domestic product (GDP), and the National Assembly’s Committee for Budget and Finance puts the total government debt at 44.6 per cent of the GDP.21 The combination of these factors causes a large dilemma for the govemment. The three-way deficits put an enormous pressure on the dong to weaken. A drastic depreciation of the dong may boost the exports and reduce the import surplus but may also cause negative psychological effects and enlarge the foreign debts. But maintaining an artificially high value of the dong for too long would exhaust the already thin foreign reserves. Analysts estimated that dollar sales aimed at stabilizing the dong during 2009 have shrunk Vietnam’s foreign-exchange reserves to US$16.5 billion, which is enough for less than three months of imports. Outside in the region, Vietnam’s neighbours such as China, South Korea, and Thailand all have added substantially to their reserves.22

Vietnam’s relatively high growth rate conceals dismal inefficiencies. In 2009 the incremental capital-output ratio (ICOR), which measures the inefficiency of investment spending, soared to 8.05 from 6.92 in 2008 and 4.76 in 2007.23 These are markedly higher compared to other high-growth countries in their pre-peak investment stages. For example, Japan’s ICOR in the 1960s and South Korea’s ICOR in the 1980s were just above 3. More recently, China’s ICOR increased from about 3 for the 1990s to neariy 4 in average for the period from 2001-8 and is estimated at about 6.7 for 2009.24 Vietnam’s extremely high ICOR also indicates that the country’s economic growth is driven primarily by capital enlargement, not productivity enhancement. If Vietnam stays on the current path, the economy is not likely to take off, as the Goldman Sachs projections suggest, and a crash is possible.

1 Le Kha Phieu, “Dang Cong san Viet Nam tam muoi Xuan” [The Vietnam Communist Party at eighty], Nhan Dan, 3 February 2010 <http://www.nhandan.com.vn/tinbai/ ?top=37&sub= 130&article= 167420>.

2 Vo Van Kiet, “Thu gui Bo Chinh tri” [Letter to the Politburo], 9 August 1995, Dien Dan, no. 48 (January 1996): 16-25. For Phieu’s insistence on “national independence and socialism”, see Phieu, ibid.

3 In my earlier work I called the two Vietnamese grand strategies “anti-imperialism” and “integration”. These names refer to the central foreign policy orientation of the two grand strategies. I called them so because my earlier work mainly addressed Vietnam’s foreign policy.

4 Rent-seeking is a special profit-seeking behavior that makes a benefit primarily from monopoly privileges and influencing govemment regulations.

5 For a different discussion of the intertwinement of profit and power in communist Vietnam, see Bill Hayton, “Vietnam’s New Money”, Foreign Policy, 21 January 2010 <http://www.foreignpolicy.com/articles/2010/01/21/vietnams_new_money&gt;.

6 For background information, see “As Clamor against Suong Verdict Grows, Officials Vow to Dig for Truth”, VietNamNet Bridge, 27 November 2009 <http://english. vietnamnet.vn/reports/200911 /As-clamor-against-Suong-verdict-grows-officials-vow-to- dig-for-truth-881145/>; “NA Committee May Intervene in Labour Hero Case, Security Minister Orders Report”, VietNamNet Bridge, 24 November 2009 <http://english.

vietnamnet.vn/reports/200911/NA-Committee-may-intervene-in-labour-hero-case- Security-minister-orders-report-880585/>; Huy Duc, “Sau ba Ba Suong la cac ‘nong truong vien’” [Behind Mrs Ba Suong there are the farmers], Blog Osin, 1 December 2009 <http://www.blogosin.org/?p=1074&gt;.

7 Dinh Thang, “Pacific Airlines thanh Jetstar Pacific: Nhieu Ian dan” [From Pacific Airlines to Jetstar Pacific: A life of hardship], Tien Phong, 11 January 2010 <http:// www.tienphong.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=183030&ChannelID=2>.

8 Geoff Easdown, “Power Struggle Strands Execs”, Herald Sun (Australia), 11 January 2010 <http://www.heraldsun.com.au/business/power-struggle-strands-execs/story-e6frfh4f-1225818205174&gt;.

9 Personal communication, 16 January 2010.

10 Goldman Sachs Global Economic Group, BRICs and Beyond (Goldman Sachs, 2007), p. 131. BRIC is an acronym invented by Goldman Sachs to refer to a group of rising great economies including Brazil, Russia, India, and China.

11 Ibid., pp. 139, 140.

12 Alexander L. Vuving, “Vietnam: Arriving in the World — and at a Crossroads,” in Southeast Asian Affairs 2008, edited by Daljit Singh and Tin Maung Maung Than (Singapore: Institute of Southeast Asian Studies, 2008), pp. 375-77.

13 Vietnam General Statistics Office, “Socio-Economic Situation in 2009,” December 2009 <http://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=413&thangtk=12/2009&gt;.

14 To Huy Rua, “Cuoc khung hoang tai chinh toan eau va nhung van de dat ra doi voi Viet Nam” [The global financial crisis and the issues it raises for Vietnam], Nhan Dan, 14 December 2009.

15 For a discussion of the role of SOEs, see Vu Quang Viet, “Vietnam Economic Crisis: Policy Follies and the Role of State-Owned Conglomerates”, in Southeast Asian Affairs 2009, edited by Daljit Singh (Singapore: Institute of Southeast Asian Studies, 2009), pp. 389-417.

16 Phan The Hai, “Dan khung long cua nen kinh te vi thanh nien” [The dinosaurs of a juvenile economy], TuanVietNam, 12 November 2009 <http://tuanvietnam.net/2009-ll-10-dan-khung-long-cua-nen-kinh-te-vi-thanh-nien&gt;.

17 Pham Minh Tri, “Muon chu dao phai tu than” [If you want to be dominant, you must be independent], TuanVietNam, 9 November 2009 <http://tuanvietnam.net/2009-ll-06-muon-chu-dao-phai-tu-than&gt;; Huy Due, “Van chua het nhung tro ngai cu” [Old obstacles still exist]. Interview with former Trade Minister Le Van Triet, Sai Gon Tiep Thi, 25 May 2009 <http://www.sgtt.com.vn/detail23.aspx?newsid=51921&fld=HTMG/2009/ 0524/51921>.

18 Hoang Phuong, “Khong tai eau truc quan ly, moi no lue khac la vo nghia” [Without restructuring economic governance, any other efforts remain meaningless], TuanVietNam, 19 May 2009 <http://tuanvietnam.net/khong-tai-cau-truc-quan-ly-moi-no-luc-khac-la-vo-nghia&gt;.

19 Vu Trong Khanh and Patrick Barta, “Hanoi Tightens Reins on Credit”, Wall Street Journa/, 3 December 2009, p. A13.

20 James Hookway and Alex Frangos, “Vietnam Devalues Its Currency”, Wall Street Journal, 26 November 2009, p. 23.

21 “Vietnam Acknowledges Growing Foreign Debt”, Deutsche Presse-Agentur, 17 November 2009.

22 Hookway and Frangos, “Vietnam Devalues”.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s