DANH DỰ CỦA TÀN QUÂN QUÂN ĐỘI SÀI GÒN NHỮNG NGÀY CUỐI THÁNG TƯ 1975…

ĐÁT NƯỚC, NHÂN DÂN Ở BẤT KỲ THỜI KỲ NÀO, BẤT KỲ MẶT
TRẬN NÀO, BẤT KỲ CHẾ ĐỘ NÀO CŨNG CẦN, CŨNG KÍNH TRỌNG NHỮNG NGƯỜI LÍNH BIẾT
TRỌNG DANH DỰ !



Blog Phamvietdaonv:Những ngày cuối tháng 4 năm 1975, khi mà quân giải phóng miền nam với khi thế vũ bão tràn vào Sài Gòn và những mảnh đất còn lại của miền nam, kết thúc cuộc chiến kéo dài 30 năm; đó cũng là lúc chúng ta chứng kiến một sự thật khác: sự tan rã thê thảm của đội quân thất trận…

Quân, tướng Sài Gòn phần đa đều tìm cách chạy tháo thân, kẻ thì về quê, người thì tìm đường di tản để bảo toàn mạng sống…Bên cạnh những hình ảnh ê chề đó, vẫn còn những người lính xứng đáng được kính trọng, đó là
hình ảnh của một số tướng lĩnh Sài Gòn, trọng tiết tháo, khi bị thất trận đã chọn cái chết thay cho bỏ chạy…
Đất nước thời nào cũng cần những người lính biết trọng danh dự; Đó chính là lý do nhân dịp tưởng niệm 30/4, xin đưa lên blog bài viết của bà Phạm Thị Kim Hoàng, phu nhân cố Thiếu tướng Lê Văn Hưng, một sĩ quan của quân đôi Sài Gòn tại Vùng 4 chiến thuật; Tướng Lê Văn Hưng đã quyết định tuẫn tiết cùng với Tướng Nguyễn Khoa Nam, bảo toàn danh dự một người lính trong những ngày cáo chung của chế độ và quân
đội Sài Gòn…
Năm Tướng lãnh của Quân đội Sài Gòn tuẫn tiết ngay 30/04/75:

Ngày 21/4/1975, khi Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu từ
chức, trao quyền lại cho cụ Trần Văn Hương, tôi còn nhớ rõ lời ông Thiệu
nói:
“Mất một Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu, quân đội còn Trung Tướng Nguyễn
Văn Thiệu, đồng bào còn một chiến sĩ Nguyễn Văn Thiệu. Tôi nguyện sẽ chiến đấu
kế bên anh em chiến sĩ”.

Lời tuyên bố của ông Thiệu đã gây cho tôi sự xúc
động. Thế rồi lời tuyên bố ấy cũng đã bay theo gió, khi số lớn cấp chỉ huy trực
tiếp điều hành guồng máy quốc gia đã vỗ cánh chim bay sang ngoại quốc, tìm nơi
ẩn trốn an lành, bỏ mặc quê nhà, dân tộc và quân đội đang chết đuối trong cuồng
phong súng đạn tơi bời, Thiếu tướng Nam, Hưng, Hai, Vỹ, Phú… Nhắc đến đây tôi
không ngăn nổi tiếng nấc nghẹn ngào.
Ôi tiếng súng nổ rền vang trên khắp lãnh thổ.
Mùa hè năm 1972, nhà văn Phan Nhật Nam đã mệnh danh là mùa hè đỏ lửa. Mùa hè
máu. Mùa hè cuối đầy yêu đương. Mùa hè tận cùng vực thẳm. Còn mùa hè 30/4/1975
bi thương thê thảm ngần nào? Chúng ta còn đủ ngôn từ để diễn tả tận cùng nỗi
thương tâm kinh hoàng của sinh ly, từ biệt, cuống cuồng ấy không? Tin thất trận
từ các Vùng 1,2,3 bay về dồn dập. Có những nơi chưa đánh đã bỏ cho địch tràn
vào. Cũng có nơi quyết liều tử chiến. Thảm thương thay, cuộc rút quân hỗn loạn
bi đát chưa từng có trong lịch sử và quân sử.

                                   Thiếu Tướng Nguyễn
khoa Nam (1927 – 1975)

Đài VOA và BBC tuyên bố những tin thất bại nặng nề về
phía QLVNCH khiến lòng dân càng thêm khiếp đảm. Những đoàn quân thất trận, tả
tơi manh giáp, không người chỉ huy, cuống quýt chạy như đàn vịt bị săn đuổi.
Tinh thần binh sĩ rối loạn hoang mang tột độ. Họ thì thào bảo nhau:

“Tổng Thống Thiệu, Thủ Tướng Khiêm, Đại Tướng Viên đã cao bay xa chạy, còn
đánh đấm gì nữa. Ông Tướng này, ông Tỉnh nọ, đã trốn đi ngoại quốc, chúng ta còn
đánh làm gì”.
Họ còn hỏi nhau:
– “Bao nhiêu năm chúng ta chiến đấu cho
tổ quốc, hay chiến đấu cho tập đoàn tham nhũng? Hay cho cá nhân của ai
đây?”

Mất người chỉ huy, những quân nhân như rắn không đầu, rối rít, tan
rã. Lại có những câu hỏi:
– “Quân không Tướng chỉ huy thì sao?” Có những
kẻ chủ tâm dè bỉu, thường chỉ trích chê bai:
– “Có những ông Tướng mà biết
đánh giặc cái gì! Chỉ có lính đánh để các ông Tướng hưởng”.

Lời phê bình
của những kẻ bất mãn hay những kẻ có tâm địa hạn hẹp, thật chẳng khác nào ếch
ngồi đáy giếng. Cho dù có những vị Tướng bê bối, làm cho quân đội bị nhục, thì
cũng có những vị Tướng trong sạch đức độ, lỗi lạc, tài ba, đáng cho dân quân
khâm phục. Những phần tử bất mãn ấy đã vô tình hay cố ý không thấy việc tối quan
hệ của sự hỗ tương, hỗ trợ, giữa các Tướng lãnh, sĩ quan và binh sĩ thật cần
thiết cho quân đội và quốc gia như thế nào. Đối với những vị cao minh, hiểu biết
giá trị hy sinh của những người tuẫn tiết, tôi trang trọng cúi đầu cảm tạ, tri
ân. Có nhiều người đã nêu lên câu hỏi với tôi:
– “Tại sao Tướng Nam, Tướng
Hưng chết làm chi cho uổng? Tại sao các ông Tướng ấy không tiếp tục chiến đấu?
Tại sao các ông không trốn sang ngoại quốc?”
Lại có người nghiêm khắc trách
tôi:
– “Bà thật dở. Nếu là tôi, tôi quyết liệt can ngăn không để cho các ông
ấy chết. Vợ con như thế này, ông Hưng chết đành bỏ vợ con lại sao?”

                                       Chuẩn Tướng Lê
văn Hưng (1933 – 1975)

Ngay cả vài vị phu nhân của các Tướng Lãnh, hoặc còn ở
trong tù, hoặc đã an nhàn nơi xứ người, cũng thốt ra những lời chỉ trích tôi.
Nghe những lời phê bình ấy, tim tôi đau nhói. Tôi tôn trọng sự nhận xét “theo
tầm hiểu biết của họ”. Tôi ngán ngẩm không trả lời, chỉ mỉm cười lắc đầu. Nhưng
hôm nay tôi phải lên tiếng…Tôi trân trọng xin những vị nào đã có những lời chỉ
trích nên bình tâm suy nghĩ lại, trước khi phán đoán vì… những vị Tướng Lãnh
bách chiến bách thắng lại lẽ nào chịu xuôi tay nhục nhã trước nghịch cảnh, trước
kẻ thù? Những vị Tướng đã từng xông pha trong mưa đạn, bao lần thử thách với tử
thần, với nhiều chiến công từ cấp bậc nhỏ lên tới hàng Tướng Lãnh, đã từng khắc
phục gian nguy, xoay ngược thế cờ, chuyển bại thành thắng trên khắp mặt trận, lẽ
nào những vị Tướng ấy chỉ nghe hai tiếng “buông súng” rồi giản dị xuôi tay tự
sát hay sao?
Viết đến đây tôi mạn phép nêu lên câu hỏi: Thưa toàn thể quý vị
sĩ quan QLVNCH. Ngày quý vị nhận lãnh chiếc mũ sĩ quan của trường Võ Bị, quý vị
còn nhớ sáu chữ gì trên chiếc mũ ấy không? Sáu chữ mà quý vị trịnh trọng đội lên
đầu là: “Tổ Quốc, Danh Dự, Trách Nhiệm”. Ngày mãn khóa sĩ quan với những lời
tuyên thệ, quý vị hẳn nhớ? Cũng như những điều tâm niệm ai lại chẳng thuộc lòng?
Những vị bỏ nước ra đi trước binh biến, những vị ở lại bị sắp hàng vào trại tù
Cộng Sản, tôi xin tạ lỗi, vì thật tình tôi không dám có lời phê phán nào. Tôi
chỉ muốn nói lên tất cả sự thật về cái chết của hai vị TướngNguyễn Khoa Nam và
Lê Văn Hưng . Hai vị Tướng này đã ba lần từ chối lời mời di tản sang ngoại quốc
của viên cố vấn Mỹ, cương quyết ở lại tử chiến, bảo vệ mảnh đất Vùng 4. Viên cố
vấn Mỹ hối thúc, đợi chờ không được, sau cùng chán nản và buồn bã bỏ
đi.

                                       Thiếu Tướng
Phạm văn Phú (1929 – 1975)

Trước đó, vào ngày 29/4/1975, lời tuyên bố của Vũ Văn Mẫu
và Dương Văn Minh trên đài phát thanh Sài Gòn ra lệnh tất cả người Mỹ phải rời
Việt Nam trong vòng 24 tiếng đồng hồ, thì chính là lúc “kế hoạch hành quân mật
của hai Tướng Nam Hưng đã hoàn tất.”
Tướng Nguyễn Hữu Hạnh, người thay thế
Tướng Vĩnh Lộc vào những ngày giờ cuối tới tấp điện thoại về Cần Thơ. Ông Hạnh
đã dùng tình cảm chiến hữu, dùng nghĩa đàn anh thân thuộc, khẩn khoản yêu cầu
Tướng Hưng về hợp tác với Dương Văn Minh và Nguyễn Hữu Hạnh. Thâm tâm có lẽ ông
Hạnh lúc đó muốn dò xét thái độ của hai Tướng Vùng 4 như thế nào. Nhiều lần, qua
cuộc điện đàm với Tướng Nguyễn Hữu Hạnh, Tướng Hưng đã luôn khẳng định:

“Không hợp tác với Dương Văn Minh. Không đầu hàng Cộng Sản. Tử chiến đến
cùng”.
Khi Tổng Thống Thiệu từ chức, trao quyền lại cho cụ Trần Văn Hương, và
rồi vì hoàn cảnh đắm chìm của vận mệnh đất nước, trước nhiều áp lực nên cụ Hương
đã trao quyền lại cho Dương Văn Minh, để rồi “ông Tướng hai lần làm đổ nát quê
hương, ố hoen lịch sử này, hạ mình ký tên dâng nước Việt Nam cho Cộng Sản.”
Vị Tướng Lãnh trấn thủ một vùng, tùy hoàn cảnh đất nước,
và tình hình chiến sự địa phương, trọn quyền quyết định, xoay chuyển thế cờ,
không cần phải tuân lệnh một cách máy móc theo cấp chỉ huy đầu não đã trốn hết,
thì còn chờ lịnh ai? Phải tuân lịnh ai? Tóm lại, lúc đó lệnh đầu hàng của Dương
Văn Minh và lời kêu gọi của Nguyễn Hữu Hạnh đã không được Tướng Nam và Tướng
Hưng đáp ứng.
Viết đến đây, tôi xúc động lạ thường. Tôi nghẹn ngào rơi lệ nhớ
đến một số sĩ quan binh sĩ đã bật khóc khi nghe lệnh đầu hàng của Dương Văn
Minh. Anh em đã ôm lá cờ tổ quốc, ôm khẩu súng vào lòng nức nở. Có những chi khu
trưởng và những đồn trưởng nhất định không chịu đầu hàng. Họ đã tử thủ đến viên
đạn chót. Và viên đạn chót dành để kết liễu đời mình. Cấp bậc của những anh em
ấy không cao, chỉ chỉ huy khu nhỏ, hay một đồn lẻ loi, nhưng tinh thần tranh đấu
của anh em cao cả và oai hùng thế đấy.
Trong khi Sài Gòn bỏ ngỏ đầu hàng thì
Cần Thơ vẫn an ninh tuyệt đối. Kế hoạch hành quân đã thảo xong. Vũ khí lương
thực đạn dược sẵn sàng. Tất cả đều chuẩn bị cho các cánh quân di chuyển, sẽ đưa
về các tuyến chiến đấu. Kế hoạch di quân, phản công, và bắt tay nằm trong lịnh
mật quân hành đó. Vùng 4 có nhiều địa thế chiến lược, có thể kéo dài cuộc chiến
thêm một thời gian. Bởi lúc đó, cho đến ngày 29 tháng 4 năm 1975, chưa có một
đồn nào, dù ở quận lỵ xa xôi hẻo lánh ở Vùng 4 đã lọt vào tay giặc
Cộng.
Chuẩn Tướng Lê
nguyên Vỹ (1933 – 1975)
Nhưng, Cần Thơ, sáng ngày 30/4/1974, dân chúng nhốn nháo
hoang mang. Đã có một số binh sĩ bỏ ngũ. Tại thị xã, cảnh náo loạn đáng buồn
chưa từng có đã xảy ra. Từng nhóm đông đảo bọn ác ôn và thừa nước đục thả câu đã
ra tay cướp giật tài sản ở các cơ sở Mỹ, và ở những nhà tư nhân đã bỏ trống, bất
chấp tiếng súng nổ can thiệp của cảnh sát duy trì an ninh trật tự công cộng.
Chúng cướp giật, đập phá, hò hét như lũ điên. Chắc chắn trong số này có bọn Cộng
Sản nằm vùng có ý đồ gây rối loạn áp đảo tinh thần binh sĩ.
Lúc ấy Tướng Nam
và Tướng Hưng vẫn còn liên lạc với các cánh quân chạm địch. Nhiều cánh quân nòng
cốt được đưa về thị xã Cần Thơ để bảo vệ Bộ chỉ huy Quân đoàn, nằm chung quanh
vòng đai Alpha. Từ 2 giờ đến 4 giờ chiều ngày 30 tháng 4, giờ đã điểm. Đúng theo
kế hoạch lệnh hành quân bắt đầu. Nhưng hỡi ôi, khi liên lạc đến các cấp chỉ huy
của các đơn vị thì mới hay họ chưa biết tý gì về kế hoạch, chưa rục rịch chi
hết, ngoài việc thay đổi các cuộc bố trí từ sáng đến giờ phút này.
Tìm kiếm
Đại Tá an ninh, người đã lãnh nhiệm vụ phân phối phóng đồ và lệnh hành quân mật
đến các đơn vị, thì mới vỡ lẽ ra vị sĩ quan này đã đưa vợ con tìm đường tẩu
thoát sau khi ném tất cả mật lệnh vào tay vị Đại Úy dưới quyền. Ông này cũng đã
cuốn gói trốn theo ông Đại Tá đàn anh, cho có thầy, có trò. Các phóng đồ và lệnh
hành quân mật cũng đã biến mất. Thiếu Tướng Nam và Thiếu Tướng Hưng tức uất
không sao tả nổi. Tôi không ngăn nổi tiếng nấc nghẹn ngào khi hồi tưởng lại vẻ
bối rối của Thiếu Tướng Nam và sự đau khổ thất vọng của Hưng. Những đường gân
trán nổi vòng lên, răng cắn chặt, biểu lộ sự đau đớn và chịu đựng kinh hồn.
Người đập tay đánh ầm xuống bàn khi thấy kế hoạch sắp xếp thật tinh vi bị kẻ
phản bội hèn nhát làm gãy đổ bất ngờ. Hưng ngước mắt nhìn tôi như muốn hỏi:

“Có đồng ý đem con lánh nạn không?”
Tôi cương quyết từ chối. Tôi không
cầu an ích kỷ, tìm sống riêng, bỏ mặc người trong cảnh dầu sôi lửa đỏ. Tôi nhất
định ở lại, cùng chịu hoạn nạn, cùng liều chết. Hưng hỏi tôi:
– “Thành
công là điều chúng ta mong ước, nhưng rủi thất bại, em định liệu lẽ nào?” Tôi
đáp:
– “Thì cùng chết! Các con cũng sẽ thế. Em không muốn một ai trong chúng
ta lọt vào tay Cộng Sản”.

Và để khỏi phải sa vào tay Cộng sản, tôi bình
tĩnh thu xếp cái chết sắp tới cho mẹ con tôi, đường giải thoát cuối cùng của
chúng tôi. 4g45 chiều ngày 30/4/75, Tướng Hưng rời bỏ văn phòng ở Bộ Tư lệnh
Quân đoàn 4, về bộ chỉ huy phụ, nơi chúng tôi tạm trú. Hưng không muốn chứng
kiến cảnh bàn giao ô nhục sắp tới giữa Thiếu Tướng Nam và tên Thiếu tá Việt Cộng
Hoàng Văn Thạch. Năm giờ rưỡi chiều khi Hoàng Văn Thạch tiến vào Bộ Tư Lệnh Quân
Đoàn là lúc Hưng gọi máy liên lạc với Tướng Mạch Văn Trường, ra lệnh đưa hai chi
đội thiết giáp tới án ngữ ở dinh Tỉnh trưởng để bảo vệ Bộ chỉ huy Sư đoàn 21 mới
về đóng nơi đây. Sau đó Hưng tiếp tục liên lạc với các đơn vị đang tiếp tục chạm
súng ở các tiểu khu. Đồng thời Hưng mời Tướng Mạch Văn Trường cùng các đơn vị
trưởng ở chung quanh vòng đai thị xã Cần Thơ về họp. 6g30 chiều, khi các vị sĩ
quan vừa ra đến cổng, có một toán thân hào nhân sĩ quen biết tại Cần Thơ đang
chực sẵn, gồm khoảng 10 người. Họ xin gặp Tướng Hưng, với tư cách đại diện dân
chúng thị xã, yêu cầu:
– “Chúng tôi biết Thiếu tướng không bao giờ chịu
khuất phục. Nhưng xin Thiếu Tướng đừng phản công. Chỉ một tiếng lệnh của Thiếu
Tướng phản công, Việt Cộng sẽ pháo kích mạnh mẽ vào thị xã. Cần Thơ sẽ nát tan,
thành bình địa như An Lộc. Dù sao, vận nước đã như thế này rồi, xin Thiếu Tướng
hãy vì dân chúng, bảo toàn mạng sống của dân, dẹp bỏ tánh khí khái, can
cường
…”.
Nghe họ nói, tôi cảm thấy đau lòng lẫn khó chịu. Tôi cũng không
ngạc nhiên về lời yêu cầu đó. Bởi mới tuần lễ trước, Việt Cộng đã pháo kích nặng
nề vào khu Cầu Đôi, cách Bộ Tư Lệnh không xa, gây thiệt hại cao về nhân mạng và
tài sản của đồng bào. Dân chúng Cần Thơ còn khiếp đảm. Hưng như đứng chết lặng
trước lời yêu cầu ấy. Một lát sau, Hưng cố gượng nở nụ cười trả lời:

Xin các ông yên lòng. Tôi sẽ cố gắng hết sức để tránh gây thiệt hại cho dân
chúng
”.
Toán người ấy ra về. Hưng quay sang hỏi tôi:
– “Em còn nhớ
tấm gương cụ Phan Thanh Giản? Bị mất ba tỉnh miền đông, rồi cũng vì dân chúng mà
cụ Phan đã nhún mình nhường thêm ba tỉnh miền tây cho quân Pháp. Cụ Phan không
nỡ thấy dân chúng điêu linh và cũng không để mất tiết tháo, không thể bó tay làm
nhục quốc sĩ. Cụ Phan Thanh Giản đành nhịn ăn rồi uống thuốc độc quyên
sinh
”.
Trầm ngâm vài giây, Hưng tiếp:
– “Thà chết chứ đâu thể bó
tay trơ mắt nhìn Việt Cộng tràn vào”.

6g45 chiều ngày 30 tháng 4, Tướng Nam điện
thoại cho Hưng, hỏi tình hình các nơi. Hưng báo với Tướng Nam về việc đại diện
dân chúng thị xã đến yêu cầu thẳng với Hưng. Hưng cũng cho Tướng Nam biết đặc
lệnh truyền tin mới nhất sẽ giao cho người tín cẩn phân phối. Tướng Nam cho Hưng
hay là ông đã cho thu băng lời kêu gọi dân chúng và lời yêu cầu này sẽ cho đài
Cần thơ phát thanh. Nhưng mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên. Thêm một lần nữa,
sự gây đổ đau lòng. Đài Cần Thơ bị nội ứng trước đó, khoảng một giờ, viên giám
đốc đài bị uy hiếp, thay vì phát thanh cuốn băng của Thiếu Tướng Nam trước,
chúng thay cuốn băng có lời kêu gọi của Thiếu tá cộng sản Hoàng Văn Thạch.
Khoảng mười phút sau, đài mới phát thanh cuốn băng của Tướng Nam. Muộn màng rồi.
Không còn níu kéo được sự tin tưởng nơi dân chúng và binh sĩ được nữa. Hàng ngũ
các đơn vị đã thưa thớt lại càng thêm thưa thớt.
7g30 tối ngày 30 tháng 4,
Hưng gọi tôi lên văn phòng làm việc. Đây là giờ phút nghiêm trọng nhất, không có
ai hiện diện hết. Sau khi kể cho tôi nghe hết sự đổ vỡ từ trưa đến giờ phút đó,
Hưng nhấn mạnh:
– “Hoàng, em đã hiểu sự thất bại do các nguyên nhân sau
đây: Vị Đại tá không tuân lệnh, nên giờ chót không điều động quân về các vị trí
chiến lược, trù liệu theo kế hoạch. Việc níu kéo sự tin tưởng của dân chúng và
binh sĩ không thành. Lời kêu gọi trễ tràng của Tướng Nam không có tiếng vang.
Cũng như lời yêu cầu của dân chúng thị xã Cần Thơ
”.
Quắc đôi mắt sáng,
Hưng nhìn tôi dằn giọng:
“Em phải sống ở lại nuôi con”.
Tôi hoảng
hốt:
– “Kìa mình, sao mình đổi ý?”
– “Con chúng ta vô tội, anh không nỡ
giết con.”

– “Nhưng không thể để con sống với Cộng sản ? Em sẽ thay
mình làm chuyện đó. Chỉ cần chích thuốc ngủ cực mạnh cho con. Chờ em một chút,
chúng ta cùng chết một lúc
”.
– “Không thể được. Cha mẹ không thể giết
con. Anh van mình. Chịu nhục, cố sống. Ở lại thay anh, nuôi con trở thành người
công chính. Phú quý vinh hoa địa vị hãy đề phòng, những thứ đó dễ làm mờ ám
lương tri. Nhớ, giang san tổ quốc là trọng đại hơn hết…”
– “Nếu vì con, mình
thương con, sao mình không đi ngoại quốc
?”
Hưng đanh mặt lại, nghiêm khắc
nhìn tôi trách móc:
– “Em là vợ anh. Em có thể nói được câu ấy
sao
?”
Biết mình vụng về, lỡ lời xúc phạm đến người, tôi vội vàng tạ
lỗi:
– “Xin mình tha thứ. Chẳng qua vì quá thương mình nên em mới nói
thế
”.
Giọng Hưng thật nghiêm trang mà cũng thật trầm tĩnh:
– “Nghe
anh nói đây. Người ta trốn chạy được. Chớ anh không bao giờ trốn chạy. Mấy ngàn
binh sĩ dưới tay, hồi nào sinh tử có nhau, giờ bỏ mặc họ tìm sống riêng mình
sao? Anh cũng không đầu hàng. Bây giờ thì rút cũng không kịp nữa, vì vào mật khu
mà không có nguồn tiếp liệu vũ khí, đạn dược, lương thực thì không cầm cự được
lâu. Đã muộn rồi. Việt Cộng đang kéo vào đừng để anh không dằn được nổ súng vào
đầu chúng, thì gây thiệt hại cho dân chúng và anh em binh sĩ. Anh không muốn
thấy bóng dáng một tên Việt Cộng nào
”.
Tôi phát run lên hỏi:

Nhưng mình ơi, còn em? em phải làm gì trong lúc này?”
Nắm chặt tay
tôi, Hưng nói:
– “Vợ chồng tình nghĩa bao nhiêu lâu, anh hiểu em và em
hiểu anh. Em tuy chỉ là con cá nhỏ nhưng biết mang ý chí kình ngư. Gắng chịu
nhục. Dù phải chịu trăm ngàn sự nhục nhã để nuôi con. Cải trang, cải dạng, len
lỏi mà sống. Anh tin em. Vì anh, vì con, vì nợ nước, tình nhà, em có thể chịu
đựng nổi! Nghe lời anh đi. Anh van mình, anh van mình
”.
Tôi không sao từ
chối được trước ánh mắt van nài, trước những lời tha thiết ấy:
– “Vâng, em
xin nghe lời mình”.

Hưng sợ tôi đổi ý, tiếp lời thúc giục:
– “Em
hứa với anh đi. Hứa một lời đi”.
– “Em xin hứa. Em xin hứa mình ơi. Nhưng xin
cho em hai điều kiện. Nếu Cộng sản bắt em phải sống xa con, nếu họ làm nhục em,
lúc ấy em có quyền tự sát theo mình chứ
?”
Hưng suy nghĩ giây lâu, gật đầu
đồng ý, và ra lệnh cho tôi:
– “Em mời má và đem các con lên lầu gặp
anh”.

Tôi quay đi. Ánh mắt bỗng chợt đập vào lá cờ vẫn dựng ở góc phòng.
Tôi vội vàng đem cờ đến bên người. Tôi nói:
– “Bao nhiêu năm chiến đấu để
bảo vệ tổ quốc. Bây giờ mình hãy giữ nó
”.
Chúng tôi nhìn nhau cảm thông.
Hưng ôm lá cờ, áp vào mặt, đôi mắt Hưng chợt ướt. Sau cùng Hưng cũng rán đứng
lên hối tôi:
– “Mau mời má và mấy đứa nhỏ lên”.
Khi mẹ tôi và các
con lên văn phòng, Hưng nói rõ cho mẹ tôi hiểu vì sao người phải chết và tôi
phải sống.
Vâng lệnh Hưng, tôi mời tất cả sĩ quan binh sĩ còn tụ họp dưới nhà
lên văn phòng. Mọi người đứng xếp hàng nghiêm trang và vô cùng cảm động. Giờ
phút từ biệt sanh ly giữa những người từng bao ngày sống chết bên nhau. Hưng
dõng dạc nói:
– “Tôi không bỏ các anh và đưa vợ con trốn sang ngoại quốc.
Như các anh đã biết, cuộc hành quân chưa chi đã bị gẫy đổ nửa chừng. Tôi không
phản công vào phút chót là vì dân chúng. Tôi không muốn Việt Cộng pháo kích bừa
bãi, biến Cần Thơ thành An Lộc thứ hai. Tôi cũng không chịu nhục đầu hàng. Các
anh đã từng cộng tác với tôi, những lúc các anh lầm lỗi, tôi rầy la. Rầy la
không có nghĩa là ghét bỏ. Rầy la để mến thương nhau, để xây dựng nhau.
Mặc
dầu đất nước ta bị bán đứng, bị dâng cho Cộng Sản, nhưng các anh không trực tiếp
chịu tội với quốc dân. Chính những người trực tiếp nắm vận mệnh các anh, mới
chính là những kẻ trọng tội. Xin các anh tha thứ cho tôi những lỗi lầm, nếu có.
Tôi bằng lòng chọn cái chết. Tướng mà không giữ được nước, không bảo vệ được
thành, thì phải chết theo thành, theo nước, chớ không thể bỏ dân, bỏ nước, trốn
chạy, cầu an. Tôi chết rồi, các anh hãy về với gia đình, vợ con. Nhớ rõ lời tôi
căn dặn: Đừng bao giờ để bị Cộng Sản tập trung các anh, dù tập trung dưới bất cứ
hình thức nào. Tôi có lời chào vĩnh biệt các anh
”.
Tướng Hưng đưa tay
chào và bắt tay từng người một. Mọi người đều khóc. Đến bên Thiếu Tá Phương,
Trung Úy Nghĩa, Hưng gởi gấm:
– “Xin giúp đỡ giùm vợ con tôi. Vĩnh biệt
tất cả
”.
Mọi người đều đứng yên không ai nói lên được lời nào. Mẹ tôi
nhào lại ôm chầm lấy người, xin được chết theo. Hưng an ủi mẹ tôi, yêu cầu mẹ
tôi cố gắng chăm lo cho cháu ngoại. Hưng ra lệnh cho tất cả mọi người phải ra
ngoài. Không ai chịu đi. Hưng phải xô từng người ra cửa. Tôi van xin:

Mình cho em ở lại chứng kiến mình chết”.
Người từ chối. Nghĩa hoảng
sợ bỏ chạy. Hưng quay vào văn phòng đóng chật cửa lại. Tôi gọi giật Nghĩa:

“Nghĩa trở lại với tôi”.
Tôi bảo Giêng tìm dao nạy cửa. Giêng bỏ chạy
như bay. Nghĩa trở lên, đứng trước cửa chờ đợi. Có tiếng súng nổ nghe chát chúa.
Tôi đưa tay xem đồng hồ: 8g45 tối ngày 30 tháng 4 năm 1975. Ngày kết liễu cuộc
đời của chúng tôi. Lê Văn Hưng, anh đã chết. Giêng run run lấy dao nạy cửa. Cửa
bật ra. Nghĩa lách mình nhường tôi chạy vào phòng trước. Hưng ngả người nằm
trên, nửa người nằm dưới, hai cánh tay dang ra, cong lên và giật mạnh, toàn thân
run rẩy từng cơn. Đôi mắt Hưng mở to căm hờn. Miệng Hưng há ra, đôi môi mấp máy.
Tôi ôm chầm lấy Hưng hỏi:
– “Mình, mình ơi! Mình còn lời gì dặn dò em nữa
không
?”
Hưng không còn trả lời được tiếng nào. Nghĩa gào lên nức nở:

Thiếu Tướng! Trời ơi, Thiếu Tướng!”
Giêng chạy vào phụ Nghĩa đỡ lưng
và chân, tôi đỡ đầu Hưng, đặt nằm ngay ngắn trên giường. Máu tim nhuộm thắm áo
trận, ướt đỏ cả tấm drap trắng. Tôi đưa tay vuốt mắt cho người. Nghĩa vẫn gào
khóc:
“Thiếu Tướng! Thiếu Tướng ơi!”
Tôi bảo Giêng:
– “Nói
Hòa đưa Hải, Hà, Quốc lên nhìn xác ba lần cuối. Dặn Phương cho Khiết, Hoàng giữ
ở cầu thang, bất cứ giá nào chũng phải ngăn chận Việt Cộng
”.
Tôi đi tìm
đầu đạn và đuôi đạn. Còn khẩu súng, lạ lùng thay không biết ở đâu. Đến lúc tắm
rửa người, thay drap dấy máu, tôi mới hiểu. Trước khi hồn lìa xác, với ý chí
cuối cùng, người còn bình tĩnh nhét khẩu súng, dấu dưới nệm. Có lẽ người sợ tôi
quá xúc động, quên lời hứa, tự sát theo. Bé Hải lúc ấy năm tuổi, ôm hai chân ba,
khóc than, kể lể thảm thiết. Bé Hà hai tuổi, thơ ngây ôm chai sữa, lên nằm trên
bụng ba, bé mở tròn đôi mắt to, ngạc nhiên không thấy ba đưa tay bế bé như mọi
khi.
Nghĩa điện thoại khắp nơi tìm Thiếu Tướng Nam, không thấy trả lời. Tôi
vội vã mở đặc lịnh truyền tin, lên máy gọi liên lạc với Thiếu tướng. Lúc ra máy,
chỉnh tần số, tôi chỉ nghe những giọng nói rặc mùi Cộng Sản trên các tần số
thuộc đơn vị của chúng ta. Lũ Việt cộng, ngày 30 tháng 4, tràn vào nhà. Phương
cương quyết chận chúng ở cầu thang. Chín giờ rưỡi, 30 tháng 4, chuông điện thoại
reo vang:
– “Alô, Alô, ai đây?”
– “Dạ thưa chị đó à? Hồ Ngọc Cẩn
đây
”. Tôi bàng hoàng:
– “Anh Cẩn! Có chuyện chi cần không?”
Tôi
cố gắng giữ giọng nói cho bình thường, để Cẩn không nhận biết sự việc xảy ra.
Trong điện thoại, về phía Cẩn, tôi có nghe tiếng súng lớn nhỏ thi nhau nổ ầm ầm.
Cẩn hỏi:
– “Thiếu Tướng đâu chị? Cho tôi gặp ông một chút”. Tôi lúng
túng vài giây:
– “Ông đang điều động quân ngoài kia”.
– “Chị
chạy ra trình Thiếu Tướng, tôi cần gặp. Trung Úy Nghĩa đâu chị?”
– “Nghĩa
đang ở bên cạnh Thiếu Tướng. Cẩn chờ một chút nhé
”.
Tôi áp chặt ống điện
thoại vào ngực. Mím môi, nhìn xác Hưng rồi nhìn sang Nghĩa tôi hỏi:
– “Đại
Tá Cẩn đòi gặp Thiếu Tướng, làm sao bây giờ Nghĩa
?” Nghĩa lúng túng:

Cô nói Thiếu Tướng chết rồi”.
– “Không thể nói như vậy được. Đại
Tá Cẩn đang cự chiến với Việt Cộng
”.
Trí óc tôi chợt lóe sáng phi thường.
Tôi muốn Cẩn chiến đấu anh hùng. Sống anh hùng. Chết anh hùng. Tôi đưa máy lên
giọng quyết liệt:
– “Thiếu Tướng không thể vào được. Cẩn cần gì cứ nói.
Tình hình ở Chương Thiện ra sao? Anh còn đủ sức chiến đấu không? Tinh thần binh
sĩ thế nào? Địch ra sao?”

– “Tụi nó dần tụi tui quá. Tinh thần anh em
vẫn cao. Chị hỏi Thiếu Tướng còn giữ y lịnh không?”
– “Cẩn vui lòng chờ
chút
”.
Tôi lại áp chặt ống điện thoại vào ngực. Cắn chặt môi suy nghĩ.
Tôi hiểu lời Cẩn hỏi. Trong tích tắc tôi biết khó cứu vãn tình thế. Nhưng tôi
muốn Hồ Ngọc Cẩn phải luôn hiên ngang hào hùng. Tôi quyết định:
– “Alô.
Cẩn nghe đây: Lịnh Thiếu Tướng. Ông hỏi Cẩn có sẵn sàng tử chiến?”
Cẩn
đáp thật nhanh:
– “Lúc nào cũng sẵn sàng, chớ chị!”
– “Tốt lắm,
vậy thì y lịnh”.
– “Dạ, cám ơn chị
”.
Tôi buông máy gục xuống bên xác
Hưng. Nước mắt trào ra, tôi kêu nho nhỏ:
– “Vĩnh biệt Cẩn. Vĩnh biệt
Cẩn!”

“Anh Cẩn ơi, hồn linh anh có phảng phất đâu đây, khi tôi ngồi
viết lại những dòng này, nước mắt rơi trên giấy, Anh có biết cho rằng trả lời
điện thoại với anh rồi, tôi đau khổ tột cùng không? Tha thứ cho tôi
!” Đại Tá
Hồ Ngọc Cẩn đã chiến đấu đến viên đạn cuối cùng, anh đã hiên ngang hào hùng đến
giờ phút chót của cuộc đời. Hiểu rõ Hưng, hiểu rõ tôi, bên kia thế giới không
thù hận, chắc anh hiểu rõ tâm trạng của tôi lúc bấy giờ, hẳn anh tha thứ cho
tôi?
Kính thưa toàn thể quý vị thuộc thân bằng quyến thuộc của Đại Tá Cẩn.
Kính thưa quý vị đã đọc những giòng chữ này. Xin quý vị chớ trách tôi sao dám
quyết định. Ngộ biến tùng quyền. Tướng Hưng đã chết. Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam
chưa liên lạc được. Vợ người lính nghĩa quân trưởng đồn, khi Việt Cộng tấn công,
chồng chị bị tử thương, chị đã thay chồng phản công ác liệt. Tôi không thể để
một người như Hồ Ngọc Cẩn đưa tay đầu hàng, hạ mình trước Việt Cộng vào dinh
tỉnh trưởng Chương Thiện.
11 giờ đêm ngày 30 tháng 4, 1975. Điện thoại lại
reo. Lần này, chính giọng của Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam:
– “Alô, chị
Hưng!”

Tôi vừa khóc, vừa đáp lời Thiếu Tướng:
– “Thưa Thiếu
Tướng…”
Giọng Tướng Nam buồn bã u uất:
– “Tôi biết rồi, chị Hưng,
tôi chia buồn với chị, nghe chị Hưng”.
Tôi vẫn nức nở:
– “Thiếu
Tướng nghĩ sao về kế hoạch đã gãy đổ?”

– “Hưng đã nói với chị hết rồi
hả? Đành vậy thôi. Không phải lỗi chúng ta hèn nhát hay bỏ cuộc. Sự sụp đổ không
cứu vãn được vì lệnh hành quân không được Đại Tá… thi hành, phóng đồ và lệnh
không tới tay các đơn vị trưởng, lời yêu cầu của dân chúng, lời kêu gọi của tôi
quá muộn màng, không hiệu quả, khó cứu vãn nổi tình hình
”.
Nói đến đây,
Thiếu Tướng Nam hỏi tôi:
– “Chị biết vụ đài phát thanh bị nội ứng
chứ?”
– “Thưa biết. Hưng cũng bảo tôi như Thiếu Tướng vậy. Bây giờ Thiếu
Tướng định liệu lẽ nào, có định phản công không?”
– “Chị quên còn dân chúng
sao? … Đàng chị thế nào?”
– “Thưa Thiếu Tướng, chúng nó đã tràn đầy dưới nhà.
Có vài tên định nhào lên, nhưng bị Giêng cương quyết đuổi xuống. Hiện chúng đang
thu dọn tài sản”.
– “Còn mấy chú đâu hết?”
– “Chỉ có Nghĩa và vài ba người
lính ở lại. Còn tất cả đã bỏ đi hết. Hưng đã chết rồi, tôi không màng đến tài
sản. Miễn là chúng đừng đụng đến xác Hưng”
– “Chị tẩm liệm Hưng chưa?”

“Thưa chưa. Vừa tắm rửa, thay quần áo xong thì Thiếu Tướng gọi tới”.
– “Chị
nên tẩm liệm Hưng ngay đi. Tôi sợ không còn kịp. chúng nó sẽ không để yên”.

“Thiếu Tướng còn dạy thêm điều gì không? Chẳng lẽ Thiếu Tướng chịu đầu hàng thật
sao?”

Người thở dài trong máy. Người nói những lời mà đến chết tôi cũng
sẽ không quên:
“Số phận Việt Nam khốn nạn thế đó, chị Hưng ơi! Tôi và
Hưng đã sắp đặt tỉ mỉ, hoàn tất kế hoạch xong xuôi, còn bị phản bội giờ
chót
”.
Người chép miệng thở dài:
– “Thôi chị Hưng ơi”.
Bỗng
giọng người trầm xuống, ngậm ngùi:
“Hưng chết rồi, chắc tôi cũng chết!
Chúng tôi làm Tướng mà không giữ được nước thì phải chết theo
nước
”.
Giọng người bình tĩnh và rắn rỏi:
– “Cố gắng can đảm lên nhé
chị Hưng. Chị phải sống vì mấy đứa nhỏ. Đêm nay có gì nguy cấp, nhớ gọi tôi. Nếu
gọi không được, dặn Nghĩa gọi Thụy, lấy mật mã mới”.
– “Dạ, cám ơn Thiếu
Tướng”.
Chuẩn Tướng
Trần văn Hai (1926 – 1975)

Nói chuyện với Thiếu Tướng xong, tôi bước ra
lan can nhìn xuống. Dưới sân, sĩ quan và lính tráng đã đi hết. Trừ có Nghĩa còn
ở lại. Cổng rào bỏ ngỏ. Gió thổi đong đưa cánh cửa rít lên những tiếng kẽo kẹt
bi ai. Mảnh trăng cuối tuần 19 tháng 3 âm lịch chênh chếch soi, vẻ ảm đạm thê
lương như xót thương cho số phận Việt Nam Cộng Hòa, cho trò đời bể dâu hưng
phế.
Viết đến đây, tôi nhớ lại từng lời của Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, của
Đại Tá Tỉnh Trưởng tỉnh Chương thiện Hồ Ngọc Cẩn. Trọn đời tôi, làm sao tôi có
thể quên giọng nói gấp rút của anh Cẩn, giọng trầm buồn của Tướng Nam.
7 giờ
sáng ngày 1 tháng 5, năm 1975. Vừa tụng dứt đoạn kinh Sám Tỉnh Thế trong nghi
thức cầu siêu cho Hưng, tôi nghe có tiếng nấc sau lưng. Quay lại, chính là Trung
Tá Tùng, bác sĩ trưởng Quân Y Viện Phan Thanh Giản, Cần Thơ. Ông đến thăm Hưng
lần cuối. Ông cho biết phải trở lại Quân Y Viện ngay vì Thiếu Tướng Nguyễn Khoa
Nam đã tự sát, xác còn nằm tại Quân Y Viện. Tướng Nam đã bắn vào thái dương, lúc
6 giờ sáng ngày 1 tháng 5, 1975. Cho đến chết, mắt Tướng Nam vẫn mở trừng trừng,
uất hận, miệng người há hốc, đớn đau. Sau cuộc điện đàm với người, tôi đã linh
cảm, biết trước chuyện gì sẽ xảy ra. Nhưng khi nghe bác sĩ Tùng báo tin, tôi xúc
động vô cùng, tôi quỳ xuống, hướng về Quân Y Viện, nơi Tướng Nam còn nằm đó, cầu
nguyện:
– Xin Thiếu Tướng tha thứ. Tôi không dám bỏ xác Hưng để đến vuốt mắt
Thiếu Tướng và lo việc tẩm liệm cho Thiếu Tướng. Bây giờ linh hồn của Thiếu
Tướng đã gặp Hưng, xin linh thiêng phò hộ cho mẹ con tôi… Xin thương xót cho
quê hương, cho dân tộc chúng ta. Xin thương xót cho toàn thể anh em binh
sĩ.
Trung Úy Nghĩa thay tôi đến viếng xác người. Trung Úy Thành, vị ân nhân
can đảm đặc biệt, đến với tôi trong giờ phút nguy nan đó. Thành đã mời được
Trung Tá Bia đến tẩm liệm cho Hưng. Những vị ân nhân trong cơn biến loạn ấy,
trọn đời tôi xin ghi khắc ơn sâu. 8 giờ sáng ngày 1 tháng 5, 1975, các sĩ quan
quân đoàn, mặc thường phục, đến viếng xác Hưng. Mầu nhiệm thay, khi gặp lại
những cộng sự viên cũ, trong thoáng chốc, mắt Hưng hé mở, nhìn lên. Và từ trong
đôi mắt người chết, có hai giòng lệ chảy. Mặt người chợt đỏ bừng lên.
Người
khóc cho quê hương đất nước bắt đầu đắm chìm trong điêu linh. Người khóc cho đám
tàn quân khốn khổ. Cho đến lúc chết, hai Tướng Nam và Hưng chỉ phân tách nguyên
nhân thất bại, làm hỏng kế hoạch của hai người chớ không ai lên tiếng nặng lời
trách móc vị Đại Tá kia.
Xin quý vị hiểu rõ giùm tôi. Tôi tôn trọng danh dự
của hai ông, vợ con và gia đình hai ông. Trong hoàn cảnh căng thẳng của đất
nước, khi lòng người mất niềm tin, hai ông cũng như nhiều người khác, thật sự
đáng thương hơn đáng trách. Không hiểu hai ông có đi thoát, hay bị bắt ở
lại.
Vận nước ngàn cân treo sợi tóc, một vài người dù đánh đổi cả vận mệnh
cũng không nâng đỡ nổi tòa nhà Việt Nam đang sụp đổ tang thương. Nhưng, một ngày
chúng ta còn mang trong người dòng máu của dân tộc Lạc Hồng, còn hít thở được
khí trời, là một ngày chúng ta còn nợ nần quê hương. Đó là món nợ thiêng liêng
và cao quý mà ngôn từ loài người chưa thể diễn tả được sát nghĩa, và thật đúng
ý…
Đọc những gì tôi kể ở đoạn trên, những vị từng hỏi hay
mỉa mai tôi, đã hiểu tất cả sự thật vì sao Tướng Nam và Tướng Hưng đã phải tự
sát để bảo tồn tiết tháo. Không ai đem việc thành bại luận anh hùng. Cũng chớ
bao giờ lấy tâm địa tiểu nhân để đo lòng người quân tử. Chúng ta, những người
còn sống, những người Việt Nam ở trong nước hay lưu vong khắp bốn phương trời,
chúng ta phải tự nêu lên câu hỏi: Chúng ta đã làm được gì cho đừng hổ thẹn với
những người đã nằm xuống?.
Họ đã nằm xuống không phải là vì họ hèn nhát! Họ
đã nằm xuống là vì muốn bảo toàn Sáu Chữ mà họ từng mang trên đầu: Tổ Quốc, Danh Dự, Trách
Nhiệm.
Nếu chưa làm được gì cho quê hương, xin hãy thận trọng lời phê
phán vô ý thức. Đừng vô tình, thành tàn nhẫn sỉ nhục những người dám chết cho Tổ
Quốc.
Phạm Thị Kim
Hoàng.

Xem đầy đủ bài viết tại
http://phamvietdaonv.blogspot.com/2011/04/danh-du-cua-tan-quan-quan-oi-sai-gon.html

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s