XÃ HỘI DÂN SỰ MANH NHA Ở VIỆT NAM: HÀNH ĐỘNG NÀO?

XÃ HỘI DÂN SỰ MANH NHA Ở VIỆT NAM: HÀNH ĐỘNG NÀO?

Người quan sát

Câu chuyện ở Đại Liên

Vào trung tuần tháng 8 năm 2011, Đại Liên đã được đánh dấu là một sự kiện mang tính biểu tượng cho phong trào xã hội dân sự ngay trong lòng Trung Quốc. Thành phố này thuộc tỉnh Liêu Ninh – một khu vực Đông Bắc nằm sát Nội Mông Cổ, một khu tự trị đang tiềm ẩn những mầm mống bất mãn của người dân đối với chính quyền người Hán, chỉ xếp sau Tân Cương và Tây Tạng.

Vụ việc Nhà máy sản xuất paraxylene Phúc Giai ở Đại Liên gây ô nhiễm trầm trọng môi trường, đe dọa đến tính mạng của người dân sinh sống trong khu vực, xét ra chẳng phải là chuyện gì to tát, nếu nhìn lại “trận dịch” mà rất nhiều doanh nghiệp sản xuất hóa chất đã hoành hành từ nhiều năm nay trên khắp lãnh thổ Trung Hoa đại lục. Tuy vậy, kết quả từ cuộc biểu tình của người dân Đại Liên giờ đây lại gặt hái được một kết quả ít ai dám mong đợi: chính quyền thành phố này – cả chủ tịch thành phố lẫn bí thư thành ủy đều phải xuất hiện, đối thoại với người biểu tình, đồng thời cam kết với người dân là sẽ di dời nhà máy paraxylene Phúc Giai ra khỏi khu công nghiệp cảng Đại Liên.

Những người biểu tình đã làm gì mà khiến chính quyền phải nhượng bộ? Phải chăng tự thân nhà máy Phúc Giai đã nằm trong danh sách đen của chính quyền thành phố về ô nhiễm môi trường mà chính quyền đã dự kiến phải di dời càng sớm càng tốt (cũng như rất nhiều trường hợp gây ô nhiễm ở Việt Nam mà cũng đã được đưa vào danh sách “hứa di dời” với thời hạn vô định)? Nhưng những thông tin thu lượm được từ vỉa hè của đường phố Đại Ninh lại cho thấy suy luận trên là chẳng hề có cơ sở.

Mười hai ngàn người tham gia là yếu tố thành công đầu tiên của cuộc biểu tình. Con số này được xem là một trong những bằng chứng ấn tượng nhất trong làn sóng biểu tình phản đối gây ô nhiễm môi trường ở Trung Quốc trong những năm qua. Vào năm 2007, một cuộc biểu tình với chủ đề tương tự cũng đã nổ ra ở thành phố Hạ Môn, tỉnh Phúc Kiến, với con số tham gia lên đến hàng chục ngàn người. Kết quả cuộc biểu tình ở Hạ Môn cũng đã buộc chính quyền thành phố phải di dời nhà máy hóa chất Đài Loan ra khỏi khu vực gây nguy hiểm cho môi sinh.

Lượng và chất luôn là hai yếu tố song trùng hữu cơ làm nên tính quyết định thành bại cho một phong trào dân sự. Trong trường hợp Đại Liên, nhân số của phong trào biểu tình gấp vài chục lần nhóm biểu tình ở Hà Nội phản đối Trung Quốc gây hấn. Những hình ảnh và tin tức nội bộ của phong trào biểu tình ở Đại Liên còn cho thấy khác với trường hợp Hạ Môn cách đây bốn năm, lần này cấu trúc cuộc biểu tình được thiết lập một cách khoa học và bài bản hơn nhiều. Chẳng hạn, người đi đường chứng kiến những phụ nữ biểu tình tiếp cận với lực lượng cảnh sát cơ động được điều đến để ngăn chặn biểu tình, mời nước uống và còn lau mồ hôi cho những chiến sĩ trẻ măng phải đứng chịu trận trong bầu không khí nóng gắt của biểu tình. Một thủ pháp binh vận chăng? Có thể xem là như thế dưới góc độ chiến thuật. Nhưng phần lớn hành động binh vận kia lại xuất phát từ sự tự nguyện của người biểu tình – một cử chỉ tương thân tương ái đã làm cho không ít cảnh sát cơ động phải xúc động.

Thứ nữa, “đám đông tụ tập” ở Đại Liên đã không hề bị biến thành một đám ô hợp. Ngược lại hoàn toàn, đó là một khối người được tổ chức chặt chẽ với sự nhất quán trong yêu sách, thái độ dứt khoát và kiên trì trong thể hiện yêu sách, ý thức chấp nhận va chạm ban đầu để tiếp cận với tòa trụ sở chính quyền, tính kỷ luật trong việc bố cục không gian hợp lý trong đoàn biểu tình mà vẫn không bị chia cắt, công tác hậu cần được tổ chức chu đáo, tâm lý và không khí biểu tình ôn hòa được duy trì ổn định…, tóm lại là những tố chất của chiến thuật và kỹ thuật biểu tình đã được cơ bản đảm bảo.

Hiển nhiên trong những điều kiện bình thường về mối quan hệ giữa chính quyền và người dân, tất cả những yếu tố trên đã làm nên một triển vọng ở mức độ có thể chấp nhận đối với một phong trào phản kháng dân sự như trường hợp Đại Liên.

Và những câu chuyện tương tự ở Việt Nam

Trong thực tế, vẫn còn nhiều khu vực ở Trung Quốc và hầu hết các tỉnh thành ở Việt Nam – những nơi nằm trong vùng nguy cơ hoặc nguy hiểm của nạn ô nhiễm môi trường – chưa tạo lập được một cán cân đối trọng với tác nhân gây ra ô nhiễm.

Vào năm 2009, ở Đồng Nai đã xuất hiện hiện tượng hàng ngàn hộ dân phản ứng đối với việc Công ty Vedan xả nước thải ra sông khiến môi sinh trong khu vực mang hình ảnh của sự chết chóc. Trong trường hợp này, những điều kiện có thể tạo ra làn sóng phản ứng của bà con nông dân và trở thành một phong trào phản kháng dân sự đã gần như chín muồi. Sự chín muồi như thế còn phát xuất từ một nguyên nhân chủ yếu dẫn đến hệ lụy bế tắc trong cách thức giải quết vấn đề: chính quyền địa phương ở Đồng Nai từ quá lâu đã tỏ ra vô trách nhiệm và cả dung túng đối với hành vi xả thải của Vedan, với những lý do mà chỉ có họ mới biết.

Thế nhưng trong thực tế đã không có phong trào phản kháng dân sự nào. Tất cả vẫn chỉ dừng ở hình thức đơn thư khiếu nại, dù rằng mức độ khiếu nại ngày càng tăng nhưng vẫn vấp phải sự vô tâm, vô cảm của chính quyền. Trong khi đó, đã bắt đầu xuất hiện những tai họa trực tiếp đối với môi trường sống của người dân.

Nếu không có báo chí kịp thời phản ánh tình hình nguy cấp trên… Hiển nhiên trong nhiều năm qua, báo chí trong nước đã đóng một vai trò quan yếu về phản biện xã hội (tuy thực tế điều này chỉ được nhà nước xem là phản ánh chứ không phải là hành vi phản biện chính thức). Nhiều vụ việc tiêu cực đã chỉ được nêu ra và làm rõ trên mặt báo chứ không phải từ các cơ quan thanh tra, kiểm tra của chính quyền. Trong những hội thảo về phòng chống tham nhũng, một vài ý kiến hiếm hoi từ phía giới chức lãnh đạo đã thừa nhận có đến 70% số vụ tiêu cực được phát hiện qua kênh thông tin của báo chí.

Trong vụ Vedan, rất nhiều tờ báo trong nước đã lên tiếng. Một vài tờ báo còn là nơi tiếp nhận đơn khiếu nại của người dân và đã trở thành chất xúc tác chính cho việc khởi kiện của những nạn nhân bị ô nhiễm đối với Vedan, buộc chính quyền phải vào cuộc, dù đó chỉ là hành động phụ họa rất miễn cưỡng của giới quản lý nhà nước.

So với nhiều vụ ô nhiễm khác ở Việt Nam, hậu quả mà Vedan gây ra đã quá lớn, đến mức chính quyền địa phương không thể làm ngơ. Trong khi đó, nhiều vụ việc gây ô nhiễm ở quy mô và mức độ nhỏ hơn đã chìm vào im lặng. Điều đó cho thấy khoảng thời gian mà người dân khiếu nại phải chịu đựng trước sự im lặng của chính quyền đã trở nên gần như vô nghĩa. Thay vào đó, nếu một phong trào phản kháng dân sự được hình thành ngay từ đầu từ người khiếu nại thì hiệu quả khiếu kiện hẳn sẽ khả quan hơn nhiều.

Cũng tại Đồng Nai, trên địa bàn huyện Long Thành trong mấy tháng qua đã xảy ra một vụ xả chất thải khác ra sông, mà tác giả của nó là Tổng công ty Phát triển khu công nghiệp Sonadezi. Với nhiều người dân sinh sống, sản xuất và chăn nuôi ở cạnh rạch Bà Chéo, họ đã phản ánh sự khốn khổ do nước thải của Sonadezi Long Thành làm tôm cá, cây trồng bị chết tới cơ quan chức năng nhưng không được quan tâm. Một chi tiết đáng chú ý trong vụ việc này là bà tổng giám đốc của Sonadezi lại là một đại biểu Quốc hội!

Nhiều vụ việc tương tự đã xảy ra ở Việt Nam chỉ với mức độ phản ứng là đơn thư khiếu nại. Do đó không có gì ngạc nhiên khi lượng đơn thư của 140 hộ dân ở Long Thành đã trở nên nhẹ bẫng trước thái độ im lặng khó hiểu của các cấp chính quyền. Tuy thế, đây lại là một hiện tượng xã hội hoàn toàn dễ hình dung, bởi thói quen nể nang và “chạy án” vẫn thường trực trong não trạng của giới quan chức và phần lớn doanh nghiệp.

Hình ảnh Hạ Môn hay Đại Liên ở Trung Quốc đã chưa hề được tái hiện ở Việt Nam. Sự việc này cũng khiến người ta băn khăn tự hỏi là liệu cái gọi là xã hội dân sự đã có cơ may hình thành ở Việt Nam hay chưa.

Môi trường, môi sinh là một trong những tiêu chí đấu tranh rất quan trọng của phong trào dân sự trên thế giới. Ở nhiều quốc gia, đặc biệt những quốc gia phát triển, những tổ chức phi chính phủ như Hòa bình xanh, DANIDA… đã xây dựng được vai trò và sự ảnh hưởng lớn lao đối với việc cải thiện các vấn đề môi trường và xã hội. Cần lưu ý, đó chỉ là những tác động thuần túy về môi trường, môi sinh mà không như suy diễn của một số giới chức lãnh đạo Việt Nam rằng ảnh hưởng như thế có thể dẫn đến một cái gì đó khác hơn, chẳng hạn như “thay đổi chính trị”.

Bài học kinh nghiệm mà nhiều tổ chức phi chính phủ hàng đầu trên thế giới đã tích lũy được và đưa vào chiến lược hành động của họ là không thể thụ động trông chờ vào sự cải tiến tự thân của các cấp chính quyền, mà phải tạo được hành động xúc tác đối với chính quyền nằm thay đổi về chính sách và những vấn đề liên quan. Đường lối hành động này trong thực tế đã trở nên hiệu quả hơn hẳn ở nhiều quốc gia châu Á như Bangladesh, Ấn Độ.

Biểu tình phản đối Trung Quốc: phong trào dân sự đầu tiên

Những cuộc biểu tình phản đối sự gây hấn của Trung Quốc ở biển Đông, diễn ra ở Hà Nội trong vài tháng qua, mà tới nay có thể tạm gọi là phong trào biểu tình, đã hàm ý tiêu chí về hành động xúc tác đối với chính sách của chính quyền, điều mà các tổ chức phi chính phủ theo trào lưu tiến bộ nhất trên thế giới đã và đang tiến hành.

Điều cần nói thẳng ra qua phong trào biểu tình phản đối Trung Quốc là không cần và không thể chấp nhận quan niệm “độc quyền yêu nước” từ phía giới chức chính quyền. Đã không có thông tin về biển Đông thì cần phải thông tin, đã không chấp nhận việc biểu thị lòng yêu nước của người dân thì cần phải chấp nhận, đã không khuyến khích chuyện “tụ tập” thì lại càng phải thừa nhận tính chất biểu tình ôn hòa như một biểu hiện của phong trào dân sự.

Hiển nhiên, hệ thống những cuộc biểu tình liên tục của giới nhân sĩ trí thức Hà Nội trong nhiều tuần qua, dù muốn hay không, đã phác ra cấu trúc đầu tiên cho một phong trào phản kháng dân sự, nằm trong mô thức xã hội dân sự mà đang dần trở nên một xu thế ở xã hội Việt Nam.

Vậy những yếu tố ban đầu nào đã tạo nên sự phác thảo cho mô hình xã hội dân sự trên? Trước hết là thành phần tham gia với những nhân sĩ, trí thức, sinh viên, kể cả cựu chiến binh và cách mạng lão thành, cũng như đã xuất hiện những tín đô tôn giáo. Những thành phần này, nếu như trước biểu tình đã ít có mối liên hệ với nhau và ở trong tình trạng rải rác, phân tán; thì trong biểu tình, điều mà mọi người đều thừa nhận là họ đã biến hình ảnh “tụ tập” thành một sự tập hợp ngày càng có quy củ, tạo thành một khối nhỏ ngày càng thống nhất hơn.

Chính tính chất tập hợp và mối quan hệ liên đới về lợi ích giữa các thành phần tham gia biểu tình là yếu tố đầu tiên hình thành nên phong trào dân sự. Một yếu tố khác cũng tạo nên xúc tác lớn cho sự hình thành ban đầu này là không khí, nếu không muốn nói là cả mục tiêu, đã được hòa quyện trong cuộc biểu tình giữa giới trí thức với những người cựu chiến binh và lão thành cách mạng – một sự đồng nguyên ở cấp độ nào đó về ý thức hệ mà lịch sử dân tộc Việt Nam luôn cần đến trong các cuộc đấu tranh chống ngoại xâm.

Tính đồng nguyên trên cũng được nhân rộng hơn bởi thái độ, tinh thần chia sẻ giữa những người không tôn giáo với giới tôn giáo trong không khí biểu tình. Mà tôn giáo là một thành phần không thể thiếu của xã hội dân sự, có ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động an sinh xã hội trên căn bản lòng bác ái của tôn giáo và các mục tiêu công bằng, bền vững và vì mọi người của xã hội dân sự.

Tuy vậy, sự thiếu vắng đương nhiên của tính đồng nguyên trong lịch sử cũng lại là khiếm khuyết của nó trong xã hội đương thời: vai trò của báo chí. Rõ ràng bối cảnh lịch sử vào thời Trần đã chưa có vai trò này, nhưng trong chuỗi biểu tình phản đối Trung Quốc vừa qua, chân đứng của mô hình xã hội dân sự ở Việt Nam vẫn chưa được gia cố khi không một tờ báo trong nước nào xác lập quan điểm ủng hộ công khai nhóm biểu tình. Trước và sau, đó vẫn là nhược điểm cố hữu của nền chính trị “độc quyền yêu nước” như người vẫn thường miêu tả. Tuy nhiên, hãy nên cảm thông điều này với báo chí trong nước.

Xã hội dân sự ở Việt Nam: những phác thảo ban đầu

 

Xã hội dân sự ở Việt Nam đã hiện ra những manh nha đầu tiên. Những manh nha này thậm chí còn xuất hiện trước phong trào biểu tình phản đối Trung Quốc – bằng vào hàng loạt cuộc hội thảo về xã hội dân sự được một số cơ quan, tổ chức tiến hành vào những năm 2008-2009, với sự đi đầu của Viện những vấn đề phát triển của TS Nguyễn Quang A.

Theo phân tích của Tổ chức phi chính phủ quốc tế CIVICUS (Liên minh thế giới vì sự tham gia của công dân), xã hội dân sự bao gồm các thành phần như tổ chức quần chúng, hội nghề nghiệp, tổ chức phi chính phủ, tổ chức tại cộng đồng (các nhóm không chính thức), tổ chức tôn giáo, báo chí…

Một căn cứ quan trọng và cũng có thể được xem là tiền đề của xã hội dân sự tại Việt Nam là 74% số công dân là thành viên của ít nhất một tổ chức quần chúng; 62% là thành viên của từ 2 tổ chức quần chúng trở lên; bình quân mỗi công dân tham gia từ 2-3 tổ chức quần chúng. Những tổ chức quần chúng này thường nhắm vào các mục tiêu từ thiện nhân đạo, giáo dục, chăm sóc sức khỏe, xóa đói giảm nghèo… Đối với hình thái xã hội dân sự ở phương Tây, chức năng của xã hội dân sự còn rộng hơn, bao gồm cả khía cạnh kinh tế, văn hóa, tôn giáo và chính trị.

Từ năm 1995, đã bắt đầu xuất hiện một vài nghiên cứu, điều tra của tổ chức quốc tế về xã hội dân sự ở Việt Nam. Từ những năm 1997-1998, bắt đầu xuất hiện những nghiên cứu lẻ dưới dạng bài viết của tác giả Việt Nam về xã hội dân sự. Từ năm 2001-2002, bắt đầu xuất hiện một vài ấn phẩm (nghiên cứu và sách) của tác giả nước ngoài kết hợp với tác giả Việt Nam về hoạt động của xã hội dân sự.

Xu thế toàn cầu hóa, xu thế hội nhập quốc tế của Việt Nam đã dẫn đến xu hướng xã hội dân sự du nhập vào Việt Nam như một trào lưu tất yếu. Đến nay tại Việt Nam cũng đã xuất hiện loại hình một số tổ chức phi chính phủ trong nước (theo thuật ngữ quốc tế là “tổ chức phi chính phủ địa phương”), cùng 600-700 tổ chức phi chính phủ nước ngoài. Sự hình thành của các tổ chức này dựa vào thực trạng đã và đang tồn tại nhiều vấn nạn xã hội ở Việt Nam như tình trạng nghèo, tệ nạn xã hội, tệ nạn tham nhũng và hoàn cảnh thiên tai.

Mặt khác, đã xuất hiện xu hướng quan tâm ngày càng tăng của giới trí thức, sinh viên và tôn giáo đối với vấn đề xã hội dân sự, liên quan đến cả khía cạnh tư tưởng và chính trị của xã hội dân sự. Xu hướng này cũng phản ánh nhu cầu phát triển hoạt động phản biện xã hội tại Việt Nam, với tiếng nói chính bắt nguồn từ báo chí và các hội đoàn xã hội.

Nói KHÔNG với xã hội dân sự!

Sau khi những báo cáo nghiên cứu ban đầu về xã hội dân sự tại Việt Nam đã hoàn thành và được đặt lên bàn của giới chức lãnh đạo, tưởng như con đường hình thành của xã hội dân sự đã có thể bước đầu được xây dựng, thì Nhà nước lại không chấp nhận sự tồn tại về pháp lý của loại hình tổ chức phi chính phủ trong nước, bất chấp thực tế đã tồn tại của nhiều tổ chức loại này ở nhiều tỉnh thành.

Những cuộc hội thảo về xã hội dân sự cũng vì thế mà rơi vào thinh không. Cho dù đã được nắn nót tổ chức bởi những người nhiệt tâm với sự phát triển của dân chủ, nhưng hầu hết những vấn đề dân chủ khi đụng chạm đến vấn đề dân sự lại đã chỉ được thể hiện bởi khung lý thuyết muôn thuở về lịch sử, vai trò, ý nghĩa, những tham khảo về xã hội dân sự trên thế giới, một số con số thống kê hoàn toàn không tách biệt được khu vực dân sự thuộc nhà nước với khối dân sự không thuộc nhà nước, những kiến nghị về chủ trương nhưng thiếu biện pháp triển khai của các nhà khoa học…, để cuối cùng dẫn đến hệ quả là cũng như làn sóng đơn thư khiếu nại về ô nhiễm môi trường của người dân, vấn đề xã hội dân sự ở Việt Nam đã không nhận được bất cứ một khuyến khích nào, thậm chí không hồi âm đối với các kiến nghị dù chỉ về chủ trương từ phía chính quyền trung ương.

Trung ương đã thế, còn thái độ của các chính quyền địa phương thì thế nào? Một thực tế đáng quan ngại về mặt bằng tri thức là chỉ có rất ít giới chức quản lý địa phương hiểu được thực chất của xã hội dân sự. Trong khi đó, phần lớn không hiểu gì hết và cũng không chịu hoặc không muốn tìm hiểu. Ngay tại TP. Hồ Chí Minh, trong một cuộc họp, một lãnh đạo của Ủy ban nhân dân thành phố đã đập bàn với cấp dưới: “Cấm các anh nói về chuyện xã hội dân sự!”.

Mặt bằng dân trí của giới chức lãnh đạo đã tạo nên phản ứng phụ ghê gớm đối với tri thức văn hóa của các nhà nghiên cứu. Không một đề xuất nào về xã hội dân sự được tán thành, cho đến lúc câu chuyện này rơi vào dĩ vãng và chẳng còn ai trong chính quyền đoái hoài đến việc cái thai nhi xã hội dân sự sống dở chết dở như thế nào.

Ở một thái cực ngược lại, những báo cáo của ngành công an từ trung ương đến cấp địa phương lại như đổ thêm dầu vào lửa khi luôn gắn kết xã hội dân sự với “Diễn biến hòa bình” hay những gì tương tự. Ngay cả những bộ phận có chức năng nghiên cứu sâu của ngành này cũng hiếm khi thực hiện được những phân tích và đánh giá cơ bản và khách quan về xã hội dân sự, từ đó dẫn đến hệ quả xã hội dân sự là một thứ cần phải “dập tắt” hơn là ‘nâng niu”.

Có thể nói không quá rằng, bên cạnh sự ấu trĩ của chính quyền về một vấn đề thời đại như xã hội dân sự, ngành công an đã giúp biến sự ấu trĩ đó thành một bước lùi rất sâu trong nhận thức về bản chất một phạm trù văn hóa.

Nói CÓ với xã hội dân sự!

Có quá nhiều việc để xã hội dân sự và các phong trào dân sự của nó làm hơn là chú tâm đến chủ đề “thay đổi thể chế” – như nỗi lo lắng mơ hồ không lúc nào ngớt của ngành công an và giới chức chính quyền.

Trong tổng số đơn thư khiếu nại của người dân từ năm 2000 đến nay, mối liên quan đến vấn đề đất đai chiếm đến 70% và gần đây tỷ lệ đó càng tăng – 90%. Đất đai là vấn đề chính trị chăng? Liệu vô số những đòi hỏi của người dân bị giải tỏa về giá bồi thường sao cho thỏa đáng, chế độ tái định cư phải được bảo đảm, môi trường sinh sống làm ăn không bị xáo trộn, nạn nhũng nhiễu của cán bộ nhà nước trong thủ tục đất đai phải được hạn chế… lại mang động cơ chính trị?

Một khi đơn thư khiếu nại của người dân – nạn nhân không được các cấp chính quyền lưu tâm hoặc bị bỏ qua không thương tiếc – lẽ tự nhiên là trong người dân phải hình thành phương thức phản ứng ở cấp độ cao hơn – khiếu kiện tập thể đến các cơ quan chính quyền ở cấp cao hơn. Đến lúc này, tính chất tập thể lại bị đồng hóa với hành động gây mất trật tự và cả rối loạn xã hội, một thứ mầm mống cho “các thế lực thù địch lợi dụng”. Hành động Tòa án Bến Tre xử “Hội thánh chuồng bò” – những người giúp dân khiếu kiện đất đai – là một minh chứng hiển nhiên cho tâm não đó.

Những mâu thuẫn xã hội nhẹ nhàng hơn cũng theo đó mà bị dồn nén bởi một mâu thuẫn khác: mất dân chủ. Bất cứ người dân nào dám thể hiện phản ứng của mình bằng hình thức tập hợp, trương biểu ngữ, tuần hành… đều dễ dàng bị quy kết thành hành vi “gây mất ổn định chính trị”.

Vô hình trung, đất đai và những hệ lụy tạo ra từ các cấp chính quyền địa phương đã tạo ra nhiệm vụ không thể thoái thác cho xã hội dân sự. Từ một thai nhi xã hội dân sự chưa thành hình, nhưng sau nhiều tác động phản cảm của chính quyền, nó đã đang thành khối. Vụ việc diễn ra vào đầu tháng 8/2011 ở giáo hạt Cầu Rầm – thuộc giáo phận Vinh ở Nghệ An là một ví dụ điển hình.

Nhà thờ Cầu Rầm cũ (Cửa Nam) được xem là khu đất thánh và giáo dân đã phản ứng quyết liệt đối với sự can thiệp của chính quyền địa phương vào khu vực này. Tuy vụ việc này chỉ là một trong rất nhiều vụ việc tranh chấp đất đai giữa giáo hội Công giáo với chính quyền tại nhiều địa phương, nhưng điểm đặc biệt là một cuộc diễu hành mang tính phản kháng của hàng ngàn giáo dân trên khắp các đường phố Vinh, với nhiều khẩu hiệu đòi trả lại đất, thực thi công lý và hòa bình và cả tự do tôn giáo.

Hiện tượng diễu hành trên cho thấy điều gì? Không còn đơn thuần là thái độ phản ứng được biểu hiện qua đơn thư khiếu nại gửi đến các cấp, mà lời nói đã chuyển sang hành động. Cuộc diễu hành ôn hòa đó về thực chất là một cuộc phản kháng ôn hòa, và với sự kết tụ của hàng ngàn con người thì có thể xác định là cuộc phản kháng ôn hòa đó đã được tổ chức chu đáo với truyền thống kỷ luật của nhà thờ. Sự gắn kết của khối người, cộng với phương pháp tổ chức chặt chẽ, cũng cho thấy một triển vọng rất gần là chính những cuộc phản kháng như vậy có thể biến thành phong trào phản kháng diễn ra trên diện rộng vào bất cứ thời điểm nào xảy ra xung đột giữa chính quyền với người Công giáo.

Hướng đến những tổ chức dân sự hành động

Ở các nước phát triển, xã hội dân sự đã được định hình như một loại thể chế có phạm vi hoạt động rất rộng và với sức ảnh hưởng rất lớn. Còn ở những quốc gia như Trung Quốc và Việt Nam, xã hội dân sự mới chủ yếu tồn tại trên khái niệm, thậm chí là một khái niệm khá mơ hồ, đặc biệt đối với tầng lớp công nhân và nông dân. Thế nhưng nếu những giai tầng ít học hiểu được cái cốt lõi của vấn đề là mục tiêu cuối cùng của xã hội dân sự nhằm hạn chế bất công xã hội thông qua phương thức xúc tác, tác động, can thiệp vào chính sách như nhiều tổ chức phi chính phủ phương Bắc (cách gọi những tổ chức phi chính phủ ở khối các quốc gia phát triển) đã làm và làm thành công, thì quyền lợi của công nhân và nông dân sẽ gắn liền với tổ chức dân sự, với giới trí thức.

Từ đó, nhiều bất cập, bất công về môi sinh, môi trường, đất đai, lao động sẽ được tổ chức dân sự xúc tác hỗ trợ người dân trong mối quan hệ với chủ đầu tư, doanh nghiệp và chính quyền địa phương. Trong cuộc diễu hành của giáo hạt Cầu Rầm ở Vinh, dù có thừa nhận hay không, một hình thức tổ chức dân sự cũng đã ra đời trong lòng giáo hạt và đang làm cái việc tạo ra tác động đối với chính sách của chính quyền, nhằm thay đổi chính sách đó phù hợp với lợi ích tinh thần của giáo dân.

Trong bài viết “Sự khó xử của nhà cầm quyền” (ngày 17/8/2011), khái niệm “xã hội dân sự mặc nhận” đã được khơi gợi, đề cập đến tính tồn tại mặc nhiên của một hình ảnh xã hội dân sự nào đó trong ý thức của những người đang bước trên lề trái của con đường. Nhưng tất nhiên, xã hội dân sự hoàn toàn có thể trở thành một cái gì đó chính thống hơn là tình cảm mặc nhận, thành một định chế có ích cho xã hội mà đến một lúc nào đó, chính quyền sẽ mặc nhiên phải thừa nhận.

Nhưng muốn có được sự thừa nhận đó, tự thân xã hội dân sự cùng những phong trào dân sự của nó phải tiến đến hành động chứ không chỉ bằng những bài tham luận, diễn thuyết trên các diễn đàn hội thảo, trong những khách sạn sang trọng. Bởi nếu chỉ là diễn thuyết và lý thuyết, sự xa cách với tầng lớp thu nhập thấp của xã hội vẫn duy trì nguyên vẹn và sẽ không có một cánh tay nối dài nào có thể đưa các giai cấp gắn quyện với nhau được.

Phong trào biểu tình phản đối Trung Quốc ở Hà Nội trong mấy tháng qua đã “vô tình” có được một đóng góp lớn cho sự khởi đầu của xã hội dân sự – một xã hội dân sự chỉ mới manh nha ở Việt Nam – nhưng đang bắt đầu tiến vào con đường của sự hành động.

Cũng như trường hợp giáo hạt Cầu Rầm ở Vinh, trong lòng phong trào biểu tình ở Hà Nội đã dần hiện ra một tổ chức dân sự – tổ chức của những người tự phát, tự nguyện, đến từ nhiều nơi, từ nhiều tầng lớp và giới, nhưng cùng chung một ý nguyện là bày tỏ sự phản ứng đối với những an nguy quốc gia và cố gắng tìm cách  hạn chế những bất công xã hội. Tính khoa học trong tổ chức của phong trào này đã được thể hiện qua “Cẩm nang biểu tình” – một văn bản hoàn toàn không chính thống nhưng lại tập kết được nguồn chất xám công phu.

Có lẽ trong tương lai không quá xa, tại nhiều tỉnh thành khác ở Việt Nam, từ Hà Nội lan ra các tỉnh phía Bắc, rồi từ phía Bắc lại lan vào phía Nam, những phong trào dân sự cùng những tổ chức dân sự sẽ tiếp nối nhau phát triển, nhằm thay đổi ít ra một chút gì đó trong chính sách và nạn nhũng nhiễu của cán bộ chính quyền khiến cho quyền lợi người dân nghèo bị thiệt hại nặng nề. Và cũng như cuộc biểu tình tập trung về khiếu tố đất đai của hơn 500 người dân các tỉnh thành phía Nam tại Văn phòng Quốc hội tại TP.HCM vào giữa năm 2007, những phong trào dân sự và tổ chức dân sự, bao gồm cả một số tờ báo có khuynh hướng phản ánh trung thực các vấn đề kinh tế xã hội và hiện trạng tiêu cực, sẽ có xu hướng gần lại với nhau trong mối chia sẻ những tâm nguyện và phương pháp hành động.

Vào bất cứ thời gian nào sự gây hấn của Trung Quốc tạm lắng, những vấn đề nội tại lại nên là trung tâm chú ý của phong trào dân sự ở Việt Nam. Chính những vấn đề quốc kế dân sinh mới đặt tiền đề cho tương lai của xã hội dân sự ở Việt Nam, bởi chỗ đứng của giới trí thức đau đáu với hiện tình đất nước chính là mối liên hệ và tình cảm gắn bó với những người công nhân và nông dân bị đẩy vào cảnh đói nghèo.

Hiện thời, xã hội dân sự ở Việt Nam mới chỉ đang bước những bước đầu tiên, trong thời kỳ đầu tiên trên con đường tự định hình nó. Nhưng nếu xu thế phong trào dân sự và tổ chức dân sự hành động được thúc đẩy, quá trình định hình đó sẽ ngắn lại đáng kể.

Đến một lúc nào đó, khi xã hội dân sự đã tự thân đứng vững trong lòng xã hội Việt Nam, chính giới chức chính quyền sẽ phải tìm cách tiếp cận, kể cả dựa vào phong trào và tổ chức dân sự như một cách thức để trở thành “công bộc” của nhân dân.

 

Nguồn: basamnews on 21.08.2011

 

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s