Kinh Tế Cũng Là Chính Trị

Hộ Khẩu, Dân Công và Đào Tạo

Nguyễn Xuân Nghĩa – Người Việt Ngày 20110906
“Kinh Tế Cũng Là Chính Trị”

Kinh tế chính trị học với màu sắc Trung Quốc

“Dân công” Trung Quốc, một bi kịch kinh tế – và nguy cơ an ninh

Trong bài viết trên tờ Newsweek ngày 28 tuần qua (tại trang cuối trong số báo đề ngày 05 Tháng Chín), Ngải Vị Vị có một câu nhắc đến việc “các trường học cho di dân bị đóng cửa” – “You will see migrants’ schools closed.” Người viết xin đi sâu hơn vào khung cửa đóng ấy….

Tại Trung Quốc, tuần báo Newsweek bị xé mất trang chót, nhưng nhà cầm quyền không kiểm duyệt nổi mạng lưới thông tin hay xã hội nên chỉ mong là dân chúng ít đọc tiếng Anh! Bài viết của người nghệ sĩ vừa bị giam 81 ngày mà không có lý do đã so sánh thủ đô Bắc Kinh vô hồn với một nhà tù, “cơn ác mộng không dứt”…. Quý độc giả nên tìm đọc bài này nếu chưa có cơ hội.

Xin trở lại các ngôi trường bị đóng và mở ra một thảm kịch kinh tế có màu sắc Trung Quốc.

***

Ngày 15 Tháng Tám vừa qua, chừng 300 phụ huynh học sinh đã biểu tình ở nhiều nơi tại Bắc Kinh để phản đối việc đóng cửa và phá hủy một số trường học cho “dân công”.

“Dân công” – chữ chính thức của Trung Quốc mà Tây phương dịch là “migrant workers” – là thành phần lao động từ quê ra tỉnh kiếm việc. Ta có thể dịch là “thợ bụi” cho dễ hiểu! Họ không có hộ khẩu chính thức nên là dân ở lậu. Con cái đem theo thì chỉ được học trường “tư thục cho dân công” và trả học phí cao hơn trường công, là trường dành cho ai có hộ khẩu ở thành phố.

Số là Tháng Sáu vừa qua, Ủy ban Nhân dân Bắc Kinh ra lệnh đóng cửa một số trường này vì “thiếu tiêu chuẩn an toàn”. Sau đó, có 24 trường bị đóng, phân nửa sẽ bị kéo xập và ba vạn học sinh trở thành… vô giáo dục. Vì thế cha mẹ mới biểu tình. Ở tại chỗ, Ngải Vị Vị đã thấy nên mới viết ra ngoài. Nhưng vì sao một nghệ sĩ thuộc loại quốc tế lại chú ý đến điều ấy?

Xin nói về chuyện dân công trước, học đường sau.

Từ khi cải cách kinh tế 30 năm về trước, Trung Quốc gặp bài toán kinh tế cổ điển là sung dụng lao động, mà không giải quyết nổi vì một lý do chính trị là chế độ “hộ khẩu” – chữ của họ mà Hà Nội xài nguyên con. Sung dụng lao động là các thành phố được công nghiệp hóa cần nhân công trong khi nông thôn lại thừa người cần việc nên phải có chính sách phân bố hợp lý. Bình thường ra thì người ta đi kiếm việc ở nơi cần người, và nhờ vậy nơi nơi đều có lợi. Nhưng Trung Quốc không là một xứ bình thường.

Từ năm 1958, Mao Trạch Đông cho ban hành chế độ hộ khẩu – ai ở đâu thì khai báo ở đó và di chuyển là phải có phép.

Lý do thứ nhất là đoàn ngũ hóa để kiểm soát về an ninh. Lý do thứ hai là kinh tế. Kế hoạch Ngũ niên đầu tiên (1953-1957) đề ra việc công nghiệp hoá bằng lợi tức của nông dân – trưng thu lương thực với giá rẻ để nuôi công nhân ở thành phố trong chế độ bao cấp. Theo kiểu Xô viết, muốn công nghiệp hóa thì phải ưu tiên xây dựng công nghiệp nặng tại các thành phố. Tại một xã hội còn ở trong trạng thái nông nghiệp, nông dân dư dôi bèn ào ạt lên tỉnh nên đe dọa sự ổn định của đảng và nhà nước. Chế độ hộ khẩu ra đời và từ đấy nông dân phải bám lấy đất mà sống đời đời kiếp kiếp ở đó….

Trong khi ấy, “giai cấp công nhân” được hưởng chế độ bao cấp về gia cư, giáo dục, y tế và có việc làm bảo đảm trong khu vực kinh tế nhà nước.

Chiến lược kinh tế hão huyền này phá sản sau “Thổ địa cách mạng” (cải cách ruộng đất) và “Đại dược tiến” (bước nhảy vọt vĩ đại) khiến mấy chục triệu người chết đói, đa số là nông dân. Từ đầu năm 1979, Đặng Tiểu Bình mới tiến hành cải cách và thực tế là làm một cuộc cách mạng ra khỏi mộng mị chết người của Mao.

Nhưng 30 năm sau sau khi mở cửa kinh tế, người dân chưa ra khỏi cái khuôn hộ khẩu dù lãnh đạo đã cả chục lần muốn cải cách.

Bài nãy xin miễn nói về mấy đợt cải cách ấy, chỉ chú ý đến từ 150 đến 200 triệu “dân công”. Họ xiêu dạt từ nơi này qua nơi kia để kiếm việc và gửi tiền về cho gia đình ở thôn quê hay các tỉnh kém phát triển nằm sâu bên trong. Một số người kéo dài kiếp sống tạm bợ ấy và sinh con đẻ con cái. Tính đến năm ngoái thì có chừng 11 triệu em nhỏ con nhà dân công đi học kiểu bụi trong các thành phố, đa số tại vùng duyên hải.

Một số người có thiện chí hoặc máu kinh doanh và nhiều “dân công lão thành” đã tìm cách mở trường tư cho con em dân công. Nhiều hội thiện cũng tham gia việc công ích đó – kể cả những người Mỹ hằng tâm hằng sản – và phong trào học đường dân công nở rộ. Khốn nỗi, vì là trường tư nên chịu học phí cao gấp 10, mà vẫn là trái phép và điều kiện về trường ốc hoặc mô phạm dĩ nhiên là kém: lớp học tồi tàn trong khu ổ chuột, thầy cô thì chạy trường như đèn kéo quân. Nhưng thà có còn hơn không!

Mà thực tế thì phong trào này có làm giảm bớt gánh nặng về giáo dục thiếu nhi cho nhà nước….

Nhưng nhà nước Bắc Kinh vừa giải quyết chuyện này với màu sắc Trung Quốc: thay vì hợp thức hóa chế độ di dân nội địa – cải tổ quy chế hộ khẩu – hoặc trước mắt thu xếp cho con em của thợ bụi được học ké một trường công, dù là lớp tối đi nữa, họ ra lệnh đóng cửa trường học dù chưa có trường lớp nào cho con em của “dân công”! Chúng ta đang chứng kiến sự bất toàn của một chế độ xưng danh “xã hội chủ nghĩa” mà thành phần bần cùng nhất của xã hội không có các dịch vụ xã hội tối thiểu như y tế, gia cư hay giáo dục loại sơ cấp…

Nhưng vấn đề nào chỉ có vậy….

***

Nhiều cuộc khảo sát mới đây của các đại học uy tín – ở thành phố dĩ nhiên – như Thanh Hoa tại Thượng Hải hay Đại học Bắc Kinh và nhiều trường khác, cho thấy là từ hai thập niên qua, thành phần sinh viên gốc nông thôn đã giảm sút liên tục và rất mạnh. Từ hơn 30% nay chỉ còn là 10%.

Ta đều biết giáo dục là đầu tư. Quốc gia chỉ phát triển khi đào tạo ra nguồn nhân lực có kiến thức cần thiết cho tương lai, xã hội chỉ tiến hóa khi mọi thành phần đều có cơ hội đi học. Ta cũng biết là trong mọi xã hội con người, việc phân cấp thành nhiều giai tầng cao thấp thường dễ xảy ra. Vì vậy mà các xã hội văn minh đều cố san bằng trở ngại để mọi người đều có cơ hội thăng tiến, và một chế độ tự xưng “xã hội chủ nghĩa” lại càng phải quan tâm đến thành phần bần cùng ở dưới.

Nhưng Trung Quốc chưa là một xứ văn minh, và cái gọi là “xã hội chủ nghĩa” chỉ là khẩu hiệu, y hệt như chữ “liên minh công nông” ngày xưa.

Xưa kia, văn hoá Trung Hoa có đề ra chế độ khoa cử, lần đầu từ nhà Tùy vào thế kỷ thứ bảy, để tuyển người cho bộ máy hành chánh của triều đình. Chế độ ấy cho phép người có tài thì dù thuộc giai tầng thấp kém vẫn có thể vượt lên trên – cùng với cả gia đình. Nội dung giáo dục có thể bất toàn và lạc hậu chứ giải pháp ấy vẫn là cần thiết. Nên nó tồn tại cho đến năm 1905 mới bị nhà Thanh xoá bỏ.

Với sự ra đời của đảng Cộng sản, ta có hiện tượng trái ngược: chế độ hộ khẩu đóng khung các giai tầng xã hội trong sự bất công được định chế hóa. Với thiểu số được ưu đãi ở thành thị, đa số tại thôn quê thì bị bóc lột và khó có cơ hội thăng tiến. Con cái “dân công” học trường bụi mà còn mất trường thì làm sao lên tới cấp đại học?

Không có giải pháp “khoa cử” như thời phong kiến – mà chỉ có giải pháp giáo dục thời xã hội chủ nghĩa còn phong kiến gấp bội – thì dân nghèo tại đây chỉ còn ngả “đào tạo”: sau bậc trung học thì tìm trường dạy nghề để tiến thân. Khá hơn thì có loại đại học cộng đồng ở địa phương. May ra sau này còn có cơ hội được tuyển vào các trường đại học có uy tín quốc gia….

Đáng lẽ Thiên triều phải phân bố ngân sách cho nhu cầu này vì cả lý do kinh tế lẫn chính trị – tức là nâng đỡ nông dân và các gia đình nghèo túng ở dưới – họ lại chẳng làm việc đó. Gốc nông dân mà không tiền hay thiếu quan hệ với kẻ ở trên thì vẫn bơi dưới đáy và khó vào đến các trường cao đẳng kỹ thuật hay đại học cộng đồng.

Chỉ vì thành phần ưu tú ở trên – trong đảng và bộ máy nhà nước, xuất thân đại học ở thành phố –  muốn giữ nguyên trạng và duy trì một rào cản vĩ đại là chế độ hộ khẩu! Phản động là thế.

Do đó, ba chục năm sau khi ngả theo kinh tế thị trường, Trung Quốc còn đào sâu dị biệt giàu nghèo và có mức bất công cao hơn mọi xã hội Đông Á đã từng chuyển hướng kinh tế trước đó. Chuyện “xã hội hài hòa” như lãnh đạo Bắc Kinh vẫn nói cũng chỉ là khẩu hiệu.

Nhưng vấn đề còn nghiêm trọng hơn vậy.

***

Tiến trình kỹ nghệ hoá thường phát triển song song với hiện tượng đô thị hoá: các đô thị thành hình từ đất đai và nhân lực của nông thôn.

Nông dân bị kẹt với chế độ hộ khẩu chỉ còn giải pháp bán đất của mình để đổi lấy tấm “thẻ xanh” – chứng minh nhân dân thay thế sổ hộ khẩu – để kiếm ăn trong thành phố, rồi đóng góp vào tiến trình đô thị hóa một cách tự phát. Khi bán đất là họ bị bóc lột… chính đáng: đảng bộ địa phương cần thu nhập ngân sách để trang trải các chi phí cho địa phương mà! Nhân đó cướp đất để làm giàu cho mình, và con cái thì “mã đáo thành công” vào các đại học lớn!

Từ chuyện Mao mị xa xưa đến chuyện hiện đại là 900 triệu nông dân bị dồn nén – chỉ có một vài trăm triệu là ngoi vào con đường “dân công” vất vả –  ta còn thấy ra một điều lạ khác.

Thời hoang tưởng của Mao khiến nhiều đồng chí bị tiêu diệt, từ Phó Chủ tịch Lưu Thiếu Kỳ trở xuống. Vậy mà con em của họ chưa tỉnh giấc cách mạng. Họ vẫn củng cố chế độ và bước vào Trung ương đảng, Bộ Chính trị và Thường vụ Bộ Chính trị để trở thành thế hệ lãnh đạo mới. Đó là phe “Thái tử đảng” rất mạnh ngày nay và sẽ còn mạnh hơn sau Đại hội 18 vào năm tới.

Sau Đại hội 17 năm 2007, thế hệ Hồ Cẩm Đào hay Ôn Gia Bảo đã cố giải tỏa chế độ hộ khẩu mà không thành. Gần đây nhất, Trưởng ban Chính pháp Trung ương đảng là Chu Vĩnh Khang, người có thẩm quyền về an ninh cho chế độ, đã nhân danh an ninh mà bác bỏ việc cải cách đó.

Kinh tế không chỉ là chính trị mà còn là an ninh. Và vì vậy Trung Quốc càng dễ bị loạn!

____________

Để làm rõ ý bài viết cô đọng của Ngải Vị Vị – NXN

Posted by Nguyễn Xuân Nghĩa at 02:07

 

Bắc Kinh Là Một Cơn Ác Mộng

 

Ngải Vị Vị – Bản dịch của Hải – Ngày 20110901


Một cơn ác mộng không dứt….

https://i1.wp.com/www.pagewash.com/nph-index.cgi/010110A/uggc:/=2f3.oc.oybtfcbg.pbz/--1c3-ilylCL/Gy_yw7U3DhV/NNNNNNNNNnj/qyjEGtgN2Pt/f320/nv-jrvjrv-whar-1994-1994.wct

 Một góc Bắc Kinh, qua ống kính của Ngải Vị Vị, Tháng Sáu năm 1994
Bắc Kinh là hai thành phố. Một thành phố của quyền lực và tiền bạc. Cư dân bất cần biết hàng xóm của họ là ai, và không tin bạn. Một thành phố khác là sự tuyệt vọng. Tôi nhìn mọi mọi người trên xe buýt công cộng, nhìn mắt họ tôi thấy họ vô vọng. Họ cũng chẳng thể tưởng tượng là sẽ có thể mua nhà. Họ đến từ những ngôi làng nghèo khó, nơi họ chưa bao giờ thấy điện hoặc giấy vệ sinh.
Mỗi năm nhiều triệu người đến Bắc Kinh xây cầu đường và nhà cửa. Mỗi một năm họ dựng thêm một Bắc Kinh lớn bằng thành phố cũ vào năm 1949. Họ là nô lệ của Bắc Kinh. Họ sống lẩn lút trong những khu gia cư bất hợp pháp mà Bắc Kinh sẽ phá hủy khi tiếp tục bành trướng. Ai là chủ các ngôi nhà (hợp pháp) vậy? Những người thuộc về chính quyền, trùm ngành than, chủ doanh nghiệp lớn. Họ đến Bắc Kinh dâng quà (hối lộ) – vì thế nhà hàng, quán nhạc karaoke và phòng tắm hơi mớt phát đạt. Bắc Kinh bảo người nước ngoài rằng họ có thể hiểu thành phố, rằng chúng tôi cũng có cùng loại kiến trúc: Sân vận động Tổ Chim, tháp truyền hình CCTV. Các quan chức mặc com lê và đeo cà-vạt như khách nước ngoài và nói với họ rằng chúng ta giống nhau, và chúng ta có thể làm ăn được. Nhưng họ lại từ chối (người dân) chúng tôi những quyền cơ bản. Bạn sẽ thấy trường học của dân công đóng cửa (1). Bạn sẽ thấy bệnh viện – nơi họ cho bệnh nhân mấy mũi khâu và khi biết bệnh nhân không có tiền, họ kéo mũi khâu ra. Đó là thành phố của bạo lực.
Điều tồi tệ nhất về Bắc Kinh là bạn không bao giờ có thể tin hệ thống pháp luật. Không có sự tin tưởng, bạn chẳng thể xác định cái gì; nó như cơn bão cát. Bạn không thấy mình là một phần của thành phố – không nơi quyến thuộc mà bạn muốn đến. Không một góc phố hay khu vực nào toả ra một loại tia sáng. Bạn không lưu luyến bất kỳ một vật liệu, thớ hàng (2) hay hình khối gì. Mọi thứ thay đổi liên tục theo ý muốn của ai đó, theo quyền lực của ai đó.
Muốn thiết kế Bắc Kinh cho đúng, bạn phải để thành phố có khoảng sống cho những sở thích khác biệt hầu mọi người có thể sống chung, hầu xã hội có một cơ thể đầy đủ. Thành phố là nơi khả dĩ cung cấp tối đa tự do. Nếu không nó thiếu hoàn chỉnh.
Tôi thấy tiếc khi nói rằng mình không có nơi chốn yêu thích ở Bắc Kinh. Tôi không có ý đi bất kỳ nơi nào trong thành phố. Mọi chỗ quá đơn giản. Bạn không muốn nhìn một người vừa đi qua vì mình biết rõ cái gì trong đầu anh ta. Không tò mò. Và cũng chẳng có ai tranh cãi với bạn.
Không một phần nào trong nghệ thuật của tôi lại thể hiện Bắc Kinh. Tổ Chim, tôi không bao giờ nghĩ về nó (3). Sau Thế vận hội, dân gian chẳng ai nói về nó vì Thế vận hội không đem niềm vui  cho họ.
Có những điều tích cực ở Bắc Kinh. Người ta vẫn sinh con. Có một vài công viên đẹp. Tuần trước tôi bước vào một vườn và vài người tới gần ra dấu tán thành hoặc vỗ nhẹ vào vai. Tại sao họ phải vậy một cách giấu giếm? Không ai dám nói ra. Họ đợi cái gì? Họ luôn nói với tôi, “Vị Vị, ra khỏi nước đi” hoặc “hãy sống lâu hơn và xem chúng chết.” Hoặc là đi, hoặc là kiên nhẫn xem chúng chết ra sao. Tôi thực sự không biết mình sẽ làm gì.
Vụ hoạn nạn của tôi làm tôi hiểu rằng trên thớ vải (4) này có nhiều vết kín mà họ nhét vào những kẻ không căn cước. Chẳng có tên, chỉ một con số. Họ bất cần xem bạn đi đâu, phạm tội gì. Họ có thấy bạn hay không thì cũng chẳng khác gì nhau. (Bắc Kinh) có ngàn chốn như vậy. Chỉ gia đình bạn là gào thét vì bạn mất tích. Nhưng bạn không có câu trả lời từ công chúng hoặc viên chức chính quyền, thậm chí từ cấp cao nhất, như tòa án, cảnh sát hay người dứng đầu quốc gia. Nhà tôi đã viết kiến nghị như thế mỗi ngày, gọi điện thoại tới đồn cảnh sát mỗi ngày. Chồng tôi ở đâu? Chỉ cho tôi biết chồng tôi ở đâu. Không có tờ giấy, không có tin tức gì.
Đặc điểm mạnh nhất của những khoảng sống như vậy là chúng bị xé rời khỏi ký ức hoặc bất cứ cái gì bạn thấy gần gũi. Bạn bị cách ly hoàn toàn. Và bạn không biết mình sẽ ở đấy bao lâu, nhưng thành thực tin rằng họ có thể ra tay bất cứ điều gì với bạn. Thậm chí chẳng có cách nào nêu vấn đề. Bạn không được cái gì bảo vệ. Sao tôi lại ở đây? Trí óc bạn không xác định được thời gian. Bạn như phát điên. Thật rất khó cho tất cả mọi người. Thậm chí với cả những ai có đức tin mãnh liệt.
Thành phố này không về người khác, về các cao ốc hay đường phố mà về cấu trúc tinh thần của mình. Nếu chúng ta nhớ những gì (tác giả Franz) Kafka viết về “Thành Bảo” của ông, chúng ta cảm ra điều ấy (5). Các thành phố thực sự là khung cảnh tâm thần. Bắc Kinh là một cơn ác mộng. Một cơn ác mộng không dứt.
_______________
Bài viết dễ cảm nhận mà thật ra lại càng khó dịch! Và khó dịch ra sự cô đọng có hơn 800 chữ của nguyên bản. Trong ý ngợi ca tác giả, người dịch xin thu gọn cho thật ngắn. Xin cám ơn bác Nghĩa đã hiệu đính và ghi chú thêm vài chỗ cho sáng ý. Những chữ trong ngoặc đơn (…) là của người dịch. Khi dịch, chúng tôi suy nghiệm ra tâm tư và tâm cảnh của tác giả Ngải Vị Vị, một nghệ sĩ đa năng về nhiều lĩnh vực mỹ thuật như hội họa, điêu khắc, kiến trúc và vừa bị chính quyền Bắc Kinh giam giữ không có lý do.
(1)   “migrants” là di dân. Nhưng tại Trung Quốc, cư dân từ thôn quê ra tỉnh kiếm việc làm thì được gọi là “dân công”. Họ không có “hộ khẩu”, không có quyền cư ngụ hay phúc lợi y tế giáo dục gì. Vì vậy mà trường học cho con em mới bị đóng cửa.
(2)   “texture” là thớ chất, khái niệm gần gũi với họa sĩ hay kiến trúc sư, vì ảnh hưởng đến những cảm xúc về thị giác, xúc giác.
(3)   “Tổ Chim” hay “Điểu Sào” là kiến trúc chính yếu của sân vận động Bắc Kinh cho Thế vận hội năm 2008. Nó có hình dạng của một tổ chim, do Ngải Vị Vị góp phần thực hiện với một văn phòng kiến trúc quốc tế của Thụy Sĩ. Ông nổi tiếng với tác phẩm nghệ thuật đã thành tiêu biểu cho Thế vận hội mà nay viết thẳng rằng chẳng còn ai nhớ nữa, kể cả chính mình!
(4)   “fabric” chỉ là vải. Nhưng dưới cái nhìn của tác giả, có lẽ đây là vải bố (canvas) được căng trên khung tranh. Ngải Vị Vị nói đến Bắc Kinh như một bức tranh có những đốm đen nhốt người trái phép sau vụ hoạn nạn của ông (“ordeal” là một tai họa về pháp lý; dịch là “pháp nạn” thì có khi gây hiểu lầm qua chuyện tôn giáo)! Người dịch cố cảm nhận ý tứ của một nghệ sĩ hội họa.
(5)   Franz Kafka là một tác giả Âu Châu thuộc loại lừng danh nhất thế kỷ 20. Cuốn truyện “Castle” được dịch sang Hoa ngữ là “Thành Bảo“, thành trì có bảo vệ, “Cấm Thành”, chứ không hẳn là một lâu đài. Tác phẩm chưa hoàn tất này nói đến quyền lực u ám và đen tối của một bộ máy thống trị đầy tính thư lại và vô nhân.
Ngoài ra, đã có hai bản dịch rất hay, xin trân trọng giới thiệu qua mạch dẫn sau đây:

http://namhai-truongson.blogspot.com/2011/08/bac-kinh-la-con-ac-mong-vinh-hang.html

(Tấm ảnh ở trên của Ngải Vị Vị là do Dainamax giới thiệu. Xin cố tìm xem Mao Trạch Đông ở đâu…)

Posted by Nguyễn Xuân Nghĩa

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s