Những Lý Do Chính Trị Của Một Tai Họa Kinh Tế

Những Lý Do Chính Trị Của Một Tai Họa Kinh Tế
Nguyễn Xuân Nghĩa – Ngày Nay 20110915

Tin mới nhất…. Barack Obama tiếp tục thất bại, và cũng vẫn tại lỗi George Bush!

Từ hơn hai năm nay, tỷ lệ thất nghiệp tại Hoa Kỳ vẫn ở mức quá cao và trong Tháng Tám nền kinh tế lại không thạo thêm một việc làm mới. Hôm mùng tám vừa qua, Tổng thống Barack Obama mới đề nghị một chương trình trị giá 447 tỷ Mỹ kim để giải quyết vấn đề. Ngày Nay yêu cầu bỉnh bút Nguyễn Xuân Nghĩa, một chuyên gia kinh tế, phân tích hồ sơ này cho bạn đọc….
Nói cho gọn, nạn thất nghiệp quá cao tại Hoa Kỳ cũng có nguyên nhân chính trị mà đề nghị của Tổng thống Barack Obama lại có ẩn ý chính trị nên càng khó đạt kết quả mọi người trông đợi.
Trong điều kiện kinh tế tốt đẹp tại Hoa Kỳ, mỗi tháng có khoảng hai triệu người mất việc và một số nhỏ hơn vậy là những người tự ý nghỉ việc, chẳng hạn như muốn về hưu, hưởng nhàn. Số nhân dụng hao hụt trên lại được bù đắp bởi những người bắt đầu có việc làm mới, hoặc những người đi làm trở lại. Hơn bù kém, mỗi tháng thì kinh tế Mỹ phải tạo thêm khoảng 150 ngàn công việc mới thì mới thu hút được số người đến tuổi đi làm và giữ thất nghiệp ở mức cũ. Và thất nghiệp ở mức 5% lực lượng lao động là điều kiện “tối hảo”, đôi khi được gọi là “toàn dụng” full employment – căn bản là đại đa số đều có việc làm mà không gây ra lạm phát hoặc lương bổng quá cao…
Một khía cạnh thứ hai cũng cần chú ý là 90% công việc làm tại Mỹ là loại việc làm mới, do các doanh nghiệp tuyển dụng thêm và 75% việc làm là từ các doanh nghiệp nhỏ, chừng 20 nhân viên trở xuống. Khi bị thất nghiệp, người ta trông đợi nhiều nhất vào doanh nghiệp nhỏ, của giới đầu tư trung lưu, không thuộc loại tỷ phú trong các đại tổ hợp.
Tiêu biểu cho sự sáng tạo và biến báo không ngừng của xã hội Mỹ là các công ty thành hình từ trong nhà xe, với vài ba người sáng lập. Và lực lượng lao động lớn nhất là thành phần làm việc trong doanh nghiệp loại trung bình và nhỏ, chứ không là các tổ hợp trong danh mục những công ty lớn nhất năm của các tạp chí chuyên đề như Forbes hay Fortune…. Điều kiện then chốt để giới đầu tư đem tiền ra kinh doanh sản xuất và tuyển người chính là triển vọng có lời, là niềm tin.
Niềm tin đó đã bị thui chột.
***
Hoa Kỳ bị suy trầm một lần vào đầu năm 2001, sau khi vừa bị nạn bể bóng đầu tư cổ phiếu năm 2000, rồi lại bị vụ khủng bố 9-11 vào Tháng Chín, tiếp theo là chiến dịch A Phú Hãn vào Tháng 10. Nhưng nạn suy trầm chấm dứt rất nhanh vào cuối năm đó, dù đã có vụ khủng hoảng dây chuyền từ các doanh nghiệp bất lương, “vụ Enron” tại Houston, vào cuối năm 2001 và đầu năm 2002.
Chu kỳ tăng giảm sản xuất – hiện tượng bình thường cứ sáu bảy năm lại xảy ra một lần – khiến kinh tế Mỹ lại bị suy trầm (recession) vào cuối năm 2007.
Lần này chu kỳ suy trầm cũng lại bị nhồi trong nhiều biến động khác: nạn bể bóng đầu tư trong thị trường gia cư năm 2006 dẫn tới vụ khủng hoảng của loại tín dụng gia cư bất trắc vào năm 2007. Đây là loại tín dụng “thứ cấp”, subprime, xuất phát từ chủ trương lý tưởng về chính trị mà rủi ro về kinh tế từ thời Jimmy Carter, George H. Bush và nhất là Bill Clinton, để giúp người nghèo dễ mua nhà. Lý tưởng xã hội dẫn đến tai họa kinh tế là vậy.
Nhưng lồng trong cái kén nợ thứ cấp có nhiều lớp bị ung thối ở bên trong là toan tính bất cẩn và thậm chí bất lương của nhiều đại tổ hợp đầu tư tài chánh và bảo hiểm – vốn cũng là cơ sở đầu tư – khiến khủng hoảng tài chánh bùng nổ vào năm 2008, bắt đầu với tổ hợp Bear Sterns vào Tháng Ba, rồi cao điểm là ngày 15 Tháng Chín với sự sụp đổ của Lehman Brothers, cùng tổ hợp bảo hiểm tư AIG và hai cơ quan bán công -nửa công nửa tư- là Fannie Mae và Freddie Mac, thủ pạm chính của những lạm dụng và tính toán bất cẩn.
Năm 2008 đó lại là năm tổng tuyển cử tại Hoa Kỳ.
Sự hốt hoảng của thị trường và dân chúng khiến cử tri đã bầu cho một ứng cử viên tay mơ, không có kinh nghiệm, mà đầy lý tưởng bao cấp của phe cực tả trong đảng Dân Chủ là Barack Obama. Ngoài phản ứng hốt hoảng thì ác cảm với Tổng thống George W. Bush và đảng Cộng Hoà cũng là một lý do, chưa kể đến khả năng tranh cử tệ mạt của ứng viên bên đảng Cộng Hoà, là Nghị sĩ John McCain .
Vì vậy, giữa nạn suy trầm khởi đi từ Tháng 12 năm 2007, Hoa Kỳ bị khủng hoảng tài chánh năm 2008 rồi khủng hoảng chính trị khi đảng Dân Chủ thắng lớn và kiểm soát cả lưỡng viện Quốc hội và Hành pháp. Trên đà thắng lợi, đảng Dân Chủ tiến hành việc “cải tạo xã hội” theo chủ trương hoang tưởng của Obama.
Nếu để không thì kinh tế Mỹ đã ra khỏi suy trầm vào Tháng Bảy năm 2009. Nhưng hai năm cải tạo xã hội 2009-2010 khiến kinh tế hồi phục trong èo uột và thất nghiệp không giảm mà còn tăng dù đã có kế hoạch kích thích kinh tế trị giá 825 tỷ từ đầu năm 2009 và những khoản tăng chi vĩ đại.
Bội chi ngân sách – chi nhiều hơn thu – và gánh nặng công trái (nợ nần của khu vực công) lên tới mức kỷ lục lịch sử.
Cử tri bèn có phản ứng của người mua hớ là trừng phạt đảng Dân Chủ, giúp đảng Cộng Hoà chiếm lại Hạ viện sau cuộc bầu cử Tháng 11 năm 2010. Kết quả là sự ách tắc chính trị khi đảng Dân Chủ kiểm soát Thượng viện và Hành pháp, đảng Cộng Hoà kiểm soát Hạ viện. Và cả ba cái đầu ấy đều nhắm vào cuộc tổng tuyển cử năm 2012.
Trong khi đó, thất nghiệp vẫn không giảm và kinh tế bị nguy cơ trôi vào một vụ suy trầm khác, gọi là “đụng đáy hai lần”, double dip, từ cuối năm nay.
***
Nhìn lại thì trong thời gian bị khủng hoảng tài chánh rồi chính trị, từ 2008 đến nay, Hoa Kỳ đã tăng chi và vay mượn quá sức, đã bành trướng vai trò bao cấp của chính quyền với kế hoạch cải tổ chế độ bảo dưỡng y tế, bảo vệ môi sinh và mở rộng việc kiểm soát sinh hoạt của thị trường.
Trong khi ấy, việc cải cách hệ thống tài chánh và ngân hàng – nguyên do của khủng hoảng tài chánh năm 2008 – chỉ là ảo giác.
Các tài phiệt Wall Street và những ngân hàng lớn nhất tiếp tục kiểm soát tình hình sau khi đã được cấp cứu và mức tập trung tư bản trong tay các ngân hàng lớn vẫn nguyên vẹn như xưa. Lý do là họ chi tiền vận động rất mạnh cho đảng Dân Chủ – như đã từng làm từ xưa tới nay. Trong khi các ngân hàng nhỏ của cộng đồng địa phương thì bị kiểm soát chặt chẽ hơn và giới đầu tư trung lưu thường xuyên bị đe dọa tăng thuế vì là “bọn nhà giầu”.
Bọn nhà giàu thật sự, các tỷ phú, thì đã nắm chính khách trong túi, và còn hô hào tăng thuế để tái lập quân bình ngân sách!
Đó là trò hề của Warren Buffet khi doanh nghiệp của ông ta còn kiện cáo không chịu thanh toán hơn hai tỷ tiền thuế trễ hạn và bản thân ông còn vận động gây quỹ cho Obama đi tái tranh cử. Hoặc Jeffrey Immelt, Chủ tịch tổ hợp G.E. Năm ngoái, tổ hợp này đạt mức lời hơn 14 tỷ mà khỏi trả một xu thuế lợi tức doanh nghiệp, và chủ tịch được mời vào làm cố vấn về… phục hồi kinh tế cho Tổng thống.
Chúng ta đụng vào nguyên nhân chính yếu của tình trạng bi đát hiện nay.
Các đại gia có thừa khả năng luồn lách luật lệ để tránh thuế trong khi những cơ sở loại trung bình và nhỏ thì khó thoát và còn lãnh thêm phí tổn vì những quy định bao cấp của chế độ bảo hiểm sức khỏe khi bành trướng cơ sở và tuyển dụng nhân viên. Mà làm gì cũng phải cân nhắc xem là có vi phạm những quy định mới hay không! Trung bình thì cứ có một nhân viên lo về sản xuất, doanh nghiệm cần thêm 1,7 nhân viên để rà soát xem mình có phạm luật hay không!
Nghĩa là vụ khủng hoảng chính trị mở thêm lỗ hổng cho các đại gia tỷ phú tránh thuế nhưng nâng rào cản cho các doanh gia loại trung bình. Các chính trị gia mị dân thì được tiếng thương dân nghèo với khẩu hiệu nhuốm mùi đấu tranh giai cấp, trong khi dân nghèo vẫn kiếm việc không ra. Khi doanh nghiệp ngại sản xuất, lao động thiếu việc làm, và giới tiêu thụ hoài nghi, thì tất nhiên là nguồn thu thuế khóa cho ngân sách càng giảm, tới mức kỷ lục từ sau Thế chiến II.
Mõt mức kỷ lục khác sự sa sút niềm tin của giới tiêu thụ căn cứ trên cuộc khảo sát mới nhất của Đại học Michigan!
***
Hôm Thứ Năm mùng tám, Tổng thống Obama trình bày kế hoạch tạo ra công ăn việc làm mà thực ra là đọc một bài diễn văn tranh cử trước lưỡng viện Quốc hội. Trong 32 phút sách động với bài viết hơn 4.000 chữ, cả chục lần ông thúc giục Quốc hội cấp bách thông qua đạo luật thất nghiệp mà chưa viết ra một chữ cho đạo luật đó. Sau chín ngày nghỉ mát ở một nơi đắt tiền nhất nước là Martha’s Vineyards!
Qua ngày Thứ Hai 12, ngay sau khi ông Obama đi vận động tranh cử với chủ điểm là nạn thất nghiệp, Bank of America, ngân hàng lớn nhất Hoa Kỳ, một đại gia thứ thiệt, loan báo sẽ sa thải ba vạn nhân viên, 10% lực lượng lao động của tổ hợp tài chính này!
Trên đại thể, ông Obama đề nghị tạm thời giảm thuế thêm một năm, làm ngân sách mất thêm 250 tỷ, cho nhu cầu gọi là đầu tư để tạo ra việc làm. Song song là tăng chi thêm 200 tỷ cho nhu cầu đầu tư vào các dự án xây dựng hạ tầng. Điểm tích cực nhất trong bài diễn văn là cho cứu xét lại các luật lệ để nới lỏng việc kiểm soát hầu khôi phục lại niềm tin của doanh nghiệp, chứ việc tăng chi 200 tỷ và thất thâu 250 tỷ khó đạt kỳ vọng nhiều người trông đợi.
Lý do là một bài kinh tế nhập môn.
Ngh thì bất nhân, nhưng nhà đầu tư lập ra doanh nghiệp để kiếm lời, chứ không là nơi tìm việc. Một cơ sở kinh doanh là một đơn vị có mục đích kiếm lời, không là một trung tâm tạo ra việc làm. Khi thấy là nếu sản xuất hoặc sản xuất thêm thì có thể bán được – và có lợi – thì doanh nghiệp sẽ tuyển người mới hoặc thu dụng người đã bị sa thải. Chính là triển vọng kiếm lời mới dẫn đến hệ quả là việc làm – chứ không phải ngược lại!
Chính quyền có thể nhất thời tạo ra việc làm khác, tức là thay thế thị trường để kiếm việc cho dân, nhưng với phí tổn là tăng chi và hậu quả làm phình nở bộ máy công quyền. Khi công quỹ hết tiền thì công nhân viên hết việc. Là chuyện đang xảy ra.
Chính quyền có thể kích thích phản ứng nhân dụng – tuyển người – khi cho giảm thuế. Nhưng không nhà đầu tư nào lập dự án sản xuất hoặc mở ra doanh nghiệp mới khi được hứa hẹn giảm thuế trong vòng một năm. Các dự án làm ăn và tuyển dụng như vậy cần vài ba năm mới thành hình và sau khi thành hình thì cũng cần thời gian, lạc quan là nửa năm, thì mới bắt đầu có lời và việc làm mới ổn định. Việc ngập ngừng giảm thuế cho nhu cầu tranh cử không có sức thuyết phục đầu tư.
Cho nên, nếu muốn giảm bớt thất nghiệp – càng sớm càng hay – chính quyền cần cải tổ môi trường kinh doanh, trước hết là khôi phục lại niềm tin của doanh trường.
Trong hoàn cảnh hiện tại thì đây là việc cực khó. Tình hình kinh tế toàn cầu, và vụ khủng hoảng đang lan rộng tại Âu Châu, không đem lại không khí lạc quan. Chúng ta sẽ thấy điều ấy ngay trong mấy tuần tới.
Tình hình chính trị tại Hoa Kỳ càng khiến người ta thêm bi quan vì cả hai đảng đều không nhượng bộ.
Trận đánh về ngân sách kéo dài từ đầu năm cho đến Tháng Bảy vừa qua là một hài kịch, kết thúc với vụ Hoa Kỳ bị Standard & Poor’s hạ điểm tín dụng, lần đầu tiên trong lịch sử! Thành quả giả hiệu của trận đánh là một ủy ban lưỡng đảng sẽ nghiên cứu việc giảm chi thêm một ngàn 500 tỷ trong 10 năm tới là một bi kịch. Ba dân biểu do Trưởng khối thiểu số Dân Chủ Nancy Pelosi đề cử vào ủy ban này là người thân tín của Pelosi trong chủ trương bao cấp chứ không là những kẻ am hiểu về kinh tế có thực lòng muốn giải quyết nạn thất quân bình ngân sách. Đề nghị tăng chi của ông Obama sẽ khiến ủy ban này càng gặp mâu thuẫn nặng.
Viễn ảnh sẽ là sự u ám kéo dài, cho đến sau kỳ bầu cử vào năm tới. Và sau bầu cử, nếu lãnh đạo Hoa Kỳ bị điện giật thật sự để giải quyết ưu tiên kinh tế thì cũng phải nhiều năm nữa ta mới thấy mức thất nghiệp trở lại tỷ lệ 7% trước cơn khủng hoảng, hoặc 5% như trong kịch bản lý tưởng.

Posted by Nguyễn Xuân Nghĩa at 18:36  

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s