Những vấn nạn chung quanh sự lập quốc của người Palestines

Những vấn nạn chung quanh sự lập quốc của người Palestines (Trần Bình Nam)

“…Biểu quyết bác bỏ thỉnh nguyện của người Palestine sẽ đặt Do Thái và Hoa Kỳ bên lề trái của lương tâm thế giới và sẽ là yếu tố tích cực đưa Palestine đến vị trí một quốc gia có chủ quyền sống hòa bình trong cộng đồng thế giới trong một tương lai không xa…”

AFP photoChủ tịch Palestine Mahmoud Abbas trong diễn văn lịch sử tại Liên Hiệp Quốc 23 tháng 9, 2011

Tại Đại hội đồng Liên hiệp quốc, hôm Thứ Sáu 23 tháng 9, đầu Thu 2011, chủ tịch chính quyền Palestine Mahmoud Abbas chính thức đệ nạp Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc đơn xin chấp thuận thành hình tân quốc Palestine.

         Đơn xin thành lập quốc gia trên nguyên tắc chỉ là sự thi hành quyền “dân tộc tự quyết” như là một quyền căn bản trong sinh hoạt của cộng đồng thế giới. Thế nhưng nó đã được chờ đợi như một biến cố tại trụ sở Liên hiệp quốc ở New York.


 Mười tám năm đã trôi qua kể từ ngày 13/9/1993 khi Tổ chức Giải Phóng Palestine (PLO) và Do Thái ký bản đồng thuận Oslo (Oslo Agreement hay Declaration of Principles – DOP) qua đó Do Thái giao hai vùng đất Tây ngạn (sông Jordan) gọi là West BankGaza cho một thực thể chính quyền người Palestine (Palestine Authority – PA), đổi lại PA công nhận quyền tồn tại của nước Do Thái. Các vấn đề gai góc như: Quy chế thành phố Jerusalem, vấn đề người tị nạn Palestine (do trận chiến tranh 1948) trở về đâu, vấn đề các khu định cư của Do Thái xây dựng trên đất Palestine sau cuộc chiến tranh 1967 sẽ được hai bên thương thuyết với nhau trước khi Do Thái công nhận Palestine là một quốc gia có chủ quyền.

         Bản thỏa ước Oslo mang đến một tia hy vọng cho vấn đề Do Thái – Palestine. Nhưng đồng sàng dị mộng. Các cuộc thương thuyết giữa hai bên không mang lại một kết quả cụ thể nào. Hình như người Do Thái xem sự thành hình một thực thể cầm quyền Palestine là đủ để thế giới thấy thiện chí của Do Thái. Thực tế vừa hạ bút ký bản DOP, thủ tướng Do Thái Yitzhak Rabin đã tuyên bố: “thành phố Jerusalem là thủ đô lâu đời và vĩnh viễn của dân tộc Do Thái. Lập trường của Do Thái là thành phố Jerusalem (không phân chia) sẽ ở dưới sự quản trị của chính phủ Do Thái trong đó mọi cư dân đều được hưởng quyền tự do tôn giáo

         Dù cứng rắn như vậy ông Rabin vẫn bị thành phần quá khích ám sát, và sau đó các chính quyền Do Thái chần chừ không thi hành thỏa ước Oslo, và dùng thì giờ để lấn đất vùng West Bank bằng cách cho xây một bức tường ngăn cách dọc theo biên giới West Bank và Do Thái bọc các khu định cư của người Do Thái đã xây dựng trên đất West Bank thuộc PA.

     Cuộc tranh chấp Do Thái – Palestine chỉ có thể giải quyết nếu Hoa Kỳ có thể cứng rắn với Do Thái. Nhưng Hoa Kỳ dù dưới chính quyền Cộng Hòa hay Dân Chủ đều không thể có chính sách cứng rắn với Do Thái. Chính sách ngoại giao này bắt nguồn từ năm 1956 khi đại tá Nasser quốc hữu hóa kênh đào Suez. Do Thái, sau khi tham khảo với Anh và Pháp đã đánh chiếm bán đảo Sinai tiến quân vào sát bờ tây kênh đào đe dọa sự lưu thông của thủy đạo quốc tế quan trọng này. Anh, Pháp lấy cớ chiếm kênh đào Suez. Tổng thống Eishenhower lo ngại Liên bang Xô viết bênh Nasser nhảy vào Trung đông nên dùng đòn bẩy tài chánh áp lực Anh rút quân (và Pháp rút theo) lui trả kênh đào lại cho Ai Cập. Biến cố này đánh dấu ảnh hưởng của Hoa Kỳ tại Tây Âu và sự mất dần ảnh hưởng của đế quốc Anh.

         Cuộc khủng hoảng Suez đã đẩy khối A Rập vào khối Liên xô và biến Do Thái thành đồng minh của Hoa Kỳ. Sự đồng minh phát sinh từ một nhu cầu chiến lược của chiến tranh lạnh trong thập niên 1960 đã dần dần trở thành một quan hệ Hoa Kỳ không thể gỡ ra được do áp lực chính trị nội bộ khi người Mỹ gốc Do Thái có khả năng thao túng quốc hội và truyền thông tại Hoa Kỳ.

     Cộng đồng thế giới có cảm tình với người Palestine, nhưng các cuộc biểu quyết của Đại hội đồng Liên hiệp quốc chỉ có tính ghi nhận và khuyến cáo, Do Thái không cần tuân thủ. Chỉ có các quyết nghị của Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc mới có hiệu lực của một đạo luật quốc tế, nhưng Hội đồng Bảo an không thể thông qua quyết nghị nào có tính ràng buộc Do Thái vì phiếu phủ quyết của Hoa Kỳ. Các chính phủ Cộng Hòa thường bênh vực Do Thái hơn các chính phủ Dân Chủ, nhưng không một chính phủ Hoa Kỳ dù thuộc đảng nào có thể coi thường sức mạnh chính trị của người Do Thái để có một chính sách ngọai giao thuyết phục Do Thái đi đến một giải pháp hai nước Do Thái – Palestine sống hòa bình bên nhau .          Khi ông Obama đắc cử tổng thống Hoa Kỳ, Palestine hy vọng ông Obama sẽ đề ra một chính sách công bình hơn đối với người Palestine, nhưng sớm nhận ra rằng đó chỉ là ảo tưởng. Tổng thống Obama ửng hộ sự hình thành một nước Palestine độc lập, có chủ quyền, thành viên của Liên hiệp quốc với biên giới Palestine trước cuộc chiến tranh 1967 – và thêm – hai bên sẽ đổi đất với nhau dựa vào thực tế tại chỗ. Nghĩa là nếu có một vùng đất vốn thuộc Palestine trước năm 1967 Do Thái đã “lỡ” chiếm và xây đựng vĩnh viễn thì Do Thái có thể thương thuyết với Palestine giữ đất đó và đổi lại cho Palestine một miếng đất thuộc Do Thái (trước năm 1967). Đề nghị có vẻ hợp lý, nhưng Do Thái không dễ đổi đất vì đặt an ninh lên trên mọi nhu cầu khác. Do Thái lý luận trước thế giới rằng một holocaust với 6 triệu người Do Thái bị giết đã quá đủ, họ cương quyết không để một việc như vậy tái diễn.

     Lập trường của Do Thái là cứ thương thuyết với PA, đồng thời vẫn tiếp tục gặm nhắm dần đất của Palestine qua việc xây dựng các khu định cư mới trong vùng West Bank và xây thêm nhà cửa chung quanh thành phố Jerusalem. Một nhà báo Tây phương miêu tả cuộc thương thuyết về ranh giới đất giữa Do Thái và Palestine giống như hai anh em chia một chiếc bánh. Ông anh ỷ mạnh vừa ăn dần rìa chiếc bánh vừa nói với em “đừng lo, để anh chia công bình cho em”. Ông em Palestine không thể chấp nhận một sự chia chác như vậy.

     Tiến triển của nỗ lực lập quốc của Palestine nhì nhằng như vậy 18 năm qua trước sự đãi bôi vì quyền lợi của các nước lớn, nhất là 5 ủy viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc.

Dưới sự lãnh đạo của ông Yasser Arafat năm 1987 người Palestine lần đầu tiên nổi dậy (gọi là first intifanda) trước âm mưu lấn đất lộ liễu của Do Thái. Cuộc nổi đậy bất bạo động này được phối hợp đồng loạt tại 3 phần đất riêng biệt là West Bank, Gaza và Đông Jerusalem gồm chống thuế, đình công, đặt chướng ngại trên các trục giao thông. Hình ảnh của cuộc nổi dậy được thế giới chứng kiến là hình ảnh thanh thiếu niên Palestine dùng tay không, ná cao su, gạch đá chống lại lực lượng an ninh trang bị bằng súng đạn của Do Thái. Cuộc nổi dậy nàychấm dứt năm 1993 với thỏa ước Oslo sau khi đã làm thiệt mạng 2,100 người Palestine, trong đó có 1000 người bị giết vì nghi là hợp tác với Do Thái, và 164 người Do Thái.

Cuộc nổi dậy thứ hai (second intifada) bùng nổ vào mùa Thu năm 2000 sau khi thủ tướng Ariel Sharon đi thăm khu Al-Haram Al-Sharif (gọi là Temple Mount ) do Do Thái kiểm soát tại Jerusalem. Người Palestine và người Do Thái đều xem Temple Mount là thánh địa của mình. Cuộc nổi dậy thứ hai bao gồm các hình thức phản kháng bạo động và bất bạo động, và chấm dứt sau khi chủ tịch Yasser Arafat qua đời năm 2004. Ông Mahmoud Abbas thay thế Arafat chủ trương chấm dứt bạo động và tìm giải pháp lập quốc qua thương thuyết khởi đầu bằng quyết định của thủ tướng Sharon rút quân và triệt hạ các khu định cư Do Thái trong vùng Gaza. Tổn thất nhân mạng trong cuộc nổi dậy thứ hai ước lượng 4.745 người Palestine và 1.053 người Do Thái.

Tư năm 2004 đến nay tình hình thương thuyết không có gì thay đổi. Tổng thống Obama có mang đến một chút hy vọng qua các phát họa mới nhưng vẫn không đi tới đâu trước thực tế chính trị tại Hoa Kỳ với sự kiểm soát truyền thông và khả năng vận động tại quốc hội (lobby) của người Mỹ gốc Do Thái .

Phác họa chính sách mới đối với vụ tranh chấp Do Thái – Palestine trong bài diễn văn đọc tại Cairo ngày 4/6/2009, tổng thống Obama nói: “… vấn đề Do Thái – Palestine chỉ có thể giải quyết qua công thức hai quốc gia công nhận nhau và cùng tồn tại bên cạnh nhau.” (The only resolution is for the aspirations of both sides to be met through two states, where Israelis and Palestinians each live in peace and security). Nhưng ông không làm gì để áp lực Do Thái ngưng các phát triển thêm các khu định cư trong vùng West Bank ngoài sự hứa hẹn “ … sẽ đích thân, kiên nhẫn và khéo léo để thực hiện …” (I intend to personally pursue this outcome with all the patience and dedication that the task requires).

Nhưng bản đồ chính trị Trung Đông thay đổi từ đầu năm 2011 sau các cuộc nổi dậy lật đổ các chế độ độc tài tại Tunisia, Ai Cập, Lybia và đang làm lung lay các chính quyền độc tài khác tại Syria, Yemen và một số tiểu quốc A Rập khác.

     Sự ổn định (tiền 2011) tại Trung Đông qua trục Ai Cập, Do Thái và Thổ Nhĩ Kỳ dưới sự cầm chịch của Hoa Kỳ không còn nữa. Sau khi Hosni Mubarak từ chức quan hệ giữa Ai Cập và Do Thái trở nên nguôi lạnh, và sau khi Do Thái truy kích quân du kích Palestine qua biên giới làm thiệt mạng một số quân nhân Ai Cập thì sự xích mích giữa hai nước bột phát bằng những cuộc biểu tình phản đối Do Thái trên đường phố Cairo. Ngày 10/9/2011 dân chúng bao vây đập phá tòa đại sứ Do Thái tại Cairo, chính quyền Ai Cập phải vất vã lắm mới cứu được 80 công chức Do Thái và thân nhân đưa ra khỏi Ai Cập. Trong khi đó quan hệ giữa Thổ Nhĩ Kỳ và Do Thái vốn đã căng thẳng từ tháng 5/2010 khi Hải quân Do Thái tấn công tàu dân sự Thổ tiếp tế nhân đạo cho dân chúng Gaza giết chết 9 công dân Thổ trở nên căng thẳng hơn khi thủ tướng tướng Thổ Erdogan (Recep Tayyip) công khai khuyến khích và hỗ trợ quyết định của chủ tịch PA Mahmoud Abbas sẽ đưa đơn xin gia nhập Liên hiệp quốc vào dịp Đại hội đồng tháng 9 năm 2011.

     Sáng kiến đưa đơn xin gia nhập Liên hiệp quốc của PA có từ năm 1999 lúc ông Arafat còn sống. Năm 1999 ông Yasser Arafat dự định đích thân dự đại hội đồng Liên hiệp quốc và nộp đơn gia nhập Liên hiệp quốc, nhưng Do Thái giam lỏng ông tại thủ đô Ramallah buộc ông bỏ ý định này. Sau khi ông Arafar qua đời tân chủ tịch Mahmoud Abbas tạm bỏ qua việc xin chính thức gia nhập Liên hiệp quốc trước áp lực của Do Thái và Hoa Kỳ chờ cơ hội.

     Nay thời cơ đã tới. Trục Do Thái – Ai Câp -Thổ nhĩ Kỳ bể. Do Thái bị cô lập. Hoa Kỳ vẫn còn có thể phủ quyết, nhưng sẽ phải trả một giá rất đắt trước dư luận bất lợi trong thế giới A Rập .

     Tại sao Do Thái và Hoa Kỳ lo ngại việc Palestine trở thành thành viên của Liên hiệp quốc qua quyết nghị của Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc chứ không qua thương thuyết tay đôi với Do Thái? Nếu Palestine trở thành quốc gia thành viên Liên hiệp quốc điều này chứng tỏ nỗ lực lập quốc của người Palestine được sự yểm trợ của cộng đồng thế giới, và nước Palestine có quyền đưa các vụ lấn đất của Do Thái ra trước tòa án quốc tế. Do Thái và Hoa Kỳ nói họ lo ngại một cuộc nổi dậy thứ ba (third intifada) sẽ bùng nỗ đưa đến chiến tranh và bất ổn nếu Hội đồng Bảo an không thông qua đòi hỏi của người Palestine.

     Hai ngày trước khi chủ tịch Mahmoud Abbas đích thân đệ nạp đơn gia nhập, tổng thống Obama đọc diễn văn trước Đại hội Liên hiệp quốc nói rằng Hoa Kỳ sẽ bỏ phiếu phủ quyết. Và thành phần thân Do Thái tại quốc hội Hoa Kỳ cho biết sẽ vận động quốc hội cắt viện trợ cho chính quyền Palestine.

     Chủ tịch Abbas biết rõ các sự de dọa này, nhưng ông không lùi bước. Thổ Nhỉ Kỳ hứa sẽ viện trợ thay Hoa Kỳ, và Saudi Arabia cho biết phiếu phủ quyết của Hoa Kỳ sẽ làm thay đổi “tình nghĩa” giữa Hoa Kỳ và khối A Rập tổng thống Obama đang vun xới .

     Ông Mahmoud Abbas đã đi một nước cờ cao. Hoa Kỳ phủ quyết, đơn ông sẽ được đưa ra trước khoáng đại Liên hiệp quốc và dễ dàng tranh thủ 2/3 quốc gia ủng hộ, trong đó có thể có cả phiếu cộng đồng châu Âu, Anh và Đức chấp nhận quy chế “quan sát viên” như quy chế hiện nay của Vatican.

         Biểu quyết bác bỏ thỉnh nguyện của người Palestine sẽ đặt Do Thái và Hoa Kỳ bên lề trái của lương tâm thế giới và sẽ là yếu tố tích cực đưa Palestine đến vị trí một quốc gia có chủ quyền sống hòa bình trong cộng đồng thế giới trong một tương lai không xa.

Triển vọng chấm dứt cuộc tranh chấp Do Thái – Palestine không lúc nào sáng sủa bằng lúc này. “ Cùng tất biến, biến tất thông”.

Trần Bình Nam
Sept. 30, 2011

 Nguồn: Ethongluan

—————————————————

Palestine nhất quyết gia nhập Liên Hiệp Quốc.

Việt-Long- RFA
2011-09-28

Sự kiện gây sôi động nhất trên thế giới trong tuần này là hành động lịch sử của chủ tịch Palestine trước Đại hội Đồng Liên Hiệp Quốc.

Mặc dù bao nhiêu sự can ngăn từ Hoa Kỳ và châu Âu, Chủ tịch Palestine Mahmoud Abbas đã ra trước Đại hội Đồng Liên Hiệp Quốc và đọc một bài diễn văn lịch sử vào hôm thứ sáu, chính thức nạp đơn yêu cầu Đại Hội Đồng chấp thuận cho Palestine trở thành một quốc gia thành viên Liên Hiệp Quốc.

Lá đơn lập tức được đa số các quốc gia thành viên Đại Hội Đồng hoan nghênh, như cả thế giới đã dự đoán. Nhưng còn nhiều quốc gia trong Liên Hiệp Quốc không hài lòng và không chịu chấp nhận sự kiện này, trước hết là Israel, sau đó là Hoa Kỳ, đồng minh quan trọng và thiết yếu của Israel, trong khi châu Âu tỏ ra không hài lòng.  Tại sao những nước này không chấp nhận sự kiện đó, trong khi họ vẫn thường nói là họ đang hướng mọi hoạt động ngoại giao vào mục đích sẽ chấp nhận một quốc gia Palestine độc lập bên cạnh xứ Do thái?

Trước hết nguyên do chính mà Israel nêu ra là vấn đề lãnh thổ.  Israel nói luôn luôn sẵn sàng đàm phán và ủng hộ một quốc gia Palestine độc lập bên cạnh nước Israel được Palestine chấp nhận, nhưng Israel lại không thể đồng ý khi Palestine đòi phải có toàn bộ lãnh thổ bờ Tây sông Jordan, phía Đông Jerusalem, và dải Gaza, gồm toàn những phần lãnh thổ đã bị Israel chiếm giữ từ cuộc đại chiến ở Trung đông năm 1967.

Đại sứ Palestine tại LHQ bắt tay đại sứ Nga sau phiên họp HĐBA 26 tháng 9-2011- AFP photo
Đại sứ Palestine tại LHQ bắt tay đại sứ Nga sau phiên họp HĐBA 26 tháng 9-2011- AFP photo

 

Israel cũng tuyên bố bác bỏ đề nghị của Palestine như một điều kiện tiên quyết để nối lại đàm phán, là Israel phải ngưng ngay mọi công trình xây dựng các khu định cư cho người Do thái trên những lãnh thổ này.

Tuy bốn thành phần hoà giải quốc tế, gọi là Quartet Trung đông, gồm cả Liên Hiệp Quốc, Liên Hiệp châu Âu, Hoa Kỳ và Liên Bang Nga, đều can ngăn ông chủ tịch Palestine vì sợ chính họ bị đưa vào thế khó xử, nhưng chủ tịch Mahmoud Abbas vẫn nhất quyết đưa trực tiếp vấn đề Palestine độc lập ra trước Liên Hiệp Quốc, là vì sự bế tắc trong tiến trình đàm phán hoà bình giữa Palestine, Israel, với sự dàn xếp của bộ tứ Quartet Trung đông.

Cuộc đàm phán đã khởi sự từ gần 20 năm nay, nhưng lúc chạy lúc ngừng, gần đây đã bế tắc không thể giải quyết gần một năm nay.  Sự bế tắc chính yếu là do Israel nhất quyết không trao lại toàn bộ những phần lãnh thổ đó cho Palestine, thể hiện bằng cách không chịu ngưng xây dựng liên tục những khu định cư Do Thái trên phần lãnh thổ mà họ chiếm được sau cuộc chiến tranh 6 ngày năm 1967 với các nước láng giềng Trung Đông gồm Ai Cập, Sy-Ri, Jordan . Hoa Kỳ với tư cách đồng minh thân thiết nhất và là nước bạn không thể thiếu của Israel, đã gây đủ mọi thứ áp lực với Israel nhưng Israel vẫn không nhượng bộ.

Từ lúc chủ tịch Mahmoud Abbas có ý định đòi gia nhập Liên Hiệp Quốc, bộ tứ quốc tế đã dự tính đưa ra một bản tuyên bố để ngăn chặn việc làm của ông Abbas, nhưng thấy không thể thành công, nên hôm thứ sáu họ đã ra thông cáo chung đề nghị nối lại cuộc hoà đàm giữa hai bên Israel và Palestine.  Tuy nhiên tất cả giới ngoại giao ở mọi phía đều không thể tìm ra được một công thức nào cho những đề tài trọng tâm của cuộc tranh chấp, mà cả hai bên liên quan có thể chấp nhận được.

Tóm tắt lại, những vấn đề đó bao gồm vấn đề hai bên nhìn nhận lẫn nhau trong khi vẫn cứ mâu thuẫn về biên giới, vấn đề định cư người Do thái trên lãnh thổ chiếm đóng từ 1967, số phận của những người Palestine đang tị nạn bên ngoài lãnh thổ của họ, vấn đề an ninh của cả hai xứ, việc sử dụng và kiểm soát nguồn nước, vấn đề chủ quyền lãnh thổ phía đông Jerusalem, vấn đề tự do di chuyển của người Palestine trong lãnh thổ do Israel chiếm giữ sau cuộc chiến 1967.

Bằng mọi giá, Hoa Kỳ vẫn kiên quyết  ủng hộ Israel, và châu Âu cũng bênh vực người Do Thái.  Sau thế chiến thứ hai châu Âu và Hoa Kỳ, lúc đó cả Liên Xô dưới thời Staline, đã hết sức giúp người Do Thái định cư trên lãnh thổ của người Palestine do Anh Quốc bảo hộ, từ năm 1947-1948. Năm 1947 Liên Hiệp Quốc ra một nghị quyết chia đôi Palestine, dành cho Israel môt nửa, nhưng chưa lập quốc. Trước đó trong thế chiến thứ hai, 6 triệu dân Do thái ở châu Âu đã bị Đức Quốc Xã tàn sát trong các trại tập trung và lò sát sinh khủng khiếp. Sau 1947 khối Á Rập phản đối nghị quyết Liên Hiệp Quốc, đánh phá tàn sát người Do Thái, trong khi xứ này tuyên bố trở thành quốc gia độc lập, cũng chiến đấu quyết liệt. Hai bên tàn sát nhau, có lúc tới vài ngàn người thiệt mạng trong một chiến dịch.

Sự ủng hộ Israel vẫn tiếp tục còn vì lý do đa số những người Hồi giáo tại các nước Á Rập ở Trung đông đều chống Mỹ và châu Âu. Những nước Hồi giáo có ảnh hưởng nhất là Syria, Iran, trước đây còn có  Ai Cập và Iraq nữa. Cả trong những nước Hồi giáo có chính quyền thân Mỹ như Á Rập Xê-Út, Liban, ngày nay là Iraq, Afghanistan, cũng đều có nhiều người kiên quyết chống Mỹ và châu Âu, từ trước khi có những hành động khủng bố của tổ chức Al-Qaeda.  Họ chống đối phương Tây vì những lý do xung đột tôn giáo từ thời Trung Cổ và vì vấn đề Israel tranh chấp với Palestine, cũng là một dân tộc vong quốc trở về đất tổ. Điều trớ trêu là thánh địa của Do thái giáo, Thiên Chúa giáo và Hồi giáo đều là cùng một chỗ ở tại Jerusalem.

Trong bối cảnh đó Hoa Kỳ chỉ có một mình Israel là đồng minh ở Trung đông để đối kháng ảnh hưởng của khối Á Rập. Israel còn là nước không Hồi giáo. Có gần 6 triệu dân Israel theo đạo Do Thái, trong dân số hồi năm 2011 là 7 triệu 700 ngàn, phần còn lại theo Hồi giáo và những tôn giáo khác.  Đạo Do Thái thờ cùng một Đức Chúa Trời với đạo Thiên Chúa La Mã và đạo Tin Lành, tuy rằng Do Thái giáo không nhìn nhận Tân ước với chúa Giê-Su là ngôi Ba con Đức Chúa Trời, mà họ chỉ thờ kính Cựu Ước.  Do đó người dân Mỹ và châu Âu vẫn muốn chính phủ của họ ủng hộ Israel.

Binh sĩ Israel chiêm ngưỡng bức tường thánh tại Jerusalem năm 1967- AFP photo
  Binh sĩ Israel chiêm ngưỡng bức tường thánh tại Jerusalem năm 1967- AFP photo

 

Nếu không có sự ủng hộ tích cực của Mỹ với châu Âu và tinh thần chiến đấu vô cùng dũng cảm cùng tài năng quân sự vượt trội của người Israel thì từ năm 1947 đến 1967 xứ sở nhỏ bé này lúc đó chưa đầy 5 triệu dân đã bị các láng giềng Á Rập tiêu diệt trọn vẹn, không có đất chôn thây.

Nay trong tình hình đó liệu việc xin làm thành viên Liên Hiệp Quốc của Palestine sẽ có kết quả ra sao?

Trước hết Chủ tịch Mahmoud Abbas đã trở thành vị anh hùng của Palestine sau bài diễn văn lịch sử tại Đại hội Đồng Liên Hiệp Quốc hôm thứ sáu tuần trước. Toàn thể dân chúng Palestine trên dải bờ Tây nồng nhiệt đón chào bày tỏ sự ủng hộ ông Abbas, sau một thời gian dài ông bị lu mờ trước lập trường hiếu chiến của lực lượng Hamas đang trấn đóng dải Gaza.

Điều này càng khiến ông cứng rắn trong sách lược đối với Israel. Về việc lập quốc của Palestine thì Hội đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc đã họp hôm thứ hai, trong tiến trình cứu xét lá đơn của Palestine, mà riêng thủ tục của việc này cũng phải kéo dài hết mấy tháng, trong khi Hoa Kỳ đã nói rõ là sẽ phủ quyết, dù rằng việc này đưa Hoa Kỳ vào vị thế chống lại ý nguyện của đa số quốc gia trên thế giới.

Khi bị phủ quyết tại Hội đồng Bảo An, Palestine vẫn có quyền yêu cầu Đại hội Đồng Liên Hiệp Quốc biểu quyết cho Palestine từ một thực thể chính trị chỉ có tư cách quan sát viên thường trực của Liên Hiệp Quốc trở  thành một quốc gia quan sát viên của Liên Hiệp Quốc, tuy vẫn không phải là một thành viên của Liên Hiệp Quốc. Tư cách này giúp Palestine được quyền tham gia các cơ chế của Liên Hiệp Quốc, được dự  phần trong các Hiệp ước quốc tế, kể cả Toà án Công lý quốc tế  hay Toà hình sự quốc tế.

Copyright © 1998-2011 Radio Free Asia.  All rights reserved

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s