Uẩn khúc Hội nghị Thành đô: Lòng tin và sự minh bạch

Uẩn khúc Hội nghị Thành đô: Lòng tin và sự minh bạch – Kami

1

Những ngày này dư luận xã hội nóng lên bởi tin Đảng CSVN đề nghị để “Việt Nam gia nhập đại gia đình các dân tộc Trung Quốc” như là một khu vực tự trị giống như Nội Mông, Tây Tạng, Quảng Tây…”. Rồi một đồn mười, mười đồn trăm, đến lúc này thực hư ra sao chưa biết, nhưng ngoài đường, ngoài chợ người ta bảo nhau chỉ còn 6 năm nữa thôi, năm 2020 là Việt Nam sẽ gia nhập đại gia đình các dân tộc Trung Quốc. Nghĩa là Việt nam sẽ trở thành một khu tự trị hay một tỉnh thuộc chính quyền trung ương Trung quốc.

Tin đồn

Được biết đây là tin từ bản Kiến nghị “Có hay không một thỏa thuận bán nước”của Thiếu tướng Lê Duy Mật, Nguyên Phó Tư lệnh – Tham mưu trưởng Quân khu 2 và Tư lệnh Mặt trận Hà Giang trong các năm 1979-1984 – Đảng viên 57 năm tuổi đảng, gửi Ban CHTW và Bộ Chính trị, yêu cầu công bố các văn bản của Thỏa hiệp Thành Đô năm 1990 giữa hai Đảng CS Việt nam và Trung quốc để cho nhân dân biết. Trong bản Kiến nghị của mình, Thiếu tướng Lê Duy Mật đã công bố nội dung của  một đoạn Thỏa hiệp Thành Đô, mà ông cho rằng có nguồn gốc từ tin của Tân hoa xã Trung Quốc và báo Hoàn cầu Thời báo. Với nội dung một phần của “Kỷ Yếu Hội Nghị” như sau:

“Vì sự tồn tại của sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa Cộng sản, Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam đề nghị phía Trung Quốc giải quyết các mối bất đồng giữa hai nước. Phía Việt Nam sẽ cố gắng hết sức mình để vun đắp tình hữu nghị vốn lâu đời vốn có giữa hai đảng và nhân dân hai nước do Chủ tịch Mao Trạch Đông và Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã dày công xây đắp trong quá khứ. Và Việt Nam bày tỏ mong muốn sẵn sàng chấp nhận làm một khu vực tự trị thuộc chính quyền Trung ương tại Bắc Kinh, như Trung Quốc đã dành cho Nội Mông, Tây Tạng, Quảng Tây….

Việt Nam bày tỏ mong muốn sẵn sàng chấp nhận làm một khu vực tự trị thuộc chính quyền Trung ương tại Bắc Kinh, như Trung Quốc đã dành cho Nội Mông, Tây Tạng, Quảng Tây….Phía Trung Quốc đồng ý và đồng ý chấp nhận đề nghị nói trên…

Tin của Tân hoa xã Trung Quốc và báo Hoàn cầu Thời báo

Phía Trung Quốc đồng ý và đồng ý chấp nhận đề nghị nói trên, và cho Việt Nam thời gian 30 năm (1990-2020) để Đảng Cộng sản Việt Nam giải quyết các bước tiến hành cần thiết cho việc gia nhập đại gia đình các dân tộc Trung Quốc.”. (Hết trích)

Hoàn cảnh ra đời của Hội nghị Thành Đô

Việt nam và Trung quốc là hai quốc gia cộng sản có quan hệ mật thiết, gắn bó với cùng nền tảng tư tưởng là ý thức hệ cộng sản. Trong giai đoạn 1949-1975, Trung quốc đã giúp Việt nam rất nhiều về người và của, đặc biệt là về mặt quân sự trong các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước. Sau năm 1975, quan hệ giữa hai nước Việt nam và Trung quốc đã có các bất đồng sâu sắc, mà đỉnh cao là cuộc chiến Biên giới phía Bắc năm 1979. Khi Trung quốc đã đưa 60 vạn quân tiến đánh và xâm nhập sâu vào lãnh thổ Việt nam trên tòan tuyến biên giới Việt – Trung trong thời gian gần một tháng trước khi rút. Vào thời điểm đó Việt nam đã Sửa đổi Hiến pháp năm 1980, xác định và ghi rõ Trung quốc là kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm.

Trong bối cảnh, từ cuối năm 1989 cho đến đầu năm 1990, hệ thống XHCN ở các nước cộng sản Đông Âu lần lượt sụp đổ, điều này đã gây mối lo ngại cho lãnh đạo Đảng CSVN, họ đã đứng ngồi không yên vì hết đường, không biết bấu víu vào ai. Ban lãnh đạo Đảng CSVN hết sức lo lắng cho sự đổ vỡ của chế độ và cuối cùng họ đã buộc phải tính nước bắt tay lại với người đồng chí Trung quốc vốn là kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm của mình.

Hội nghị Thành Đô ra đời trong hoàn cảnh ấy, vào ngày 3 – 4.9.1990, tại Thành Đô, thủ phủ tỉnh Tứ Xuyên (Trung Quốc) đã diễn ra cuộc họp thượng đỉnh giữa lãnh đạo cao cấp nhất hai Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam – Trung Quốc. Cuộc họp với mục đích bình thường hóa quan hệ giữa hai nước và hai Đảng. Thành phần tham dự, về  phía Việt Nam gồm có Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Đỗ Mười, và Cố vấn Ban chấp hành Trung ương Đảng Phạm Văn Đồng. Phía Trung quốc là Giang Trạch Dân, Tổng bí thư đảng cộng sản Trung Quốc cùng với Lý Bằng, Thủ tướng Quốc vụ viện Trung Quốc. Đáng chú ý, cho đến nay các thông tin về cuộc gặp mặt bí mật này không được công bố trong nước

Trong bối cảnh, từ cuối năm 1989 cho đến đầu năm 1990, hệ thống XHCN ở các nước cộng sản Đông Âu lần lượt sụp đổ…Ban lãnh đạo Đảng CSVN hết sức lo lắng cho sự đổ vỡ của chế độ và cuối cùng họ đã buộc phải tính nước bắt tay lại với người đồng chí TQ vốn là kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm

Hội nghị Thành Đô 1990 được cho là mở đầu một giai đoạn bất bình thường mới trong quan hệ Việt – Trung. Ông Nguyễn Trung, nguyên Thư ký của Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã đánh giá là một thất bại nhục nhã của Việt nam, đồng thời nó trở thành mối uy hiếp trực tiếp và nguy hiểm nhất đối với độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và con đường phát triển của Việt nam. Còn ông Nguyễn Cơ Thạch , nguyên Ủy viên Bộ Chính trị – Bộ trưởng Bộ ngoại giao lúc ấy đã nhận định về thỏa thuận Thành Đô 1990 rằng “Một thời kỳ Bắc thuộc mới rất nguy hiểm đã khởi sự.”

Thái độ của chính quyền Việt nam sau Hội nghị Thành Đô

Sau Hội nghị Thành Đô, quan hệ ngoại giao giữa Việt nam và Trung quốc đã nhanh chóng được bình thường hóa và phát triển. Do nắm bắt được các điểm yếu được coi là tử huyệt sống còn của Đảng CSVN, chính quyền Trung quốc đã dần gia tăng sức ép và đòi hỏi Việt nam đi từ nhượng bộ này đến nhượng bộ khác. Đắc biệt là trong vấn đề lãnh thổ và lãnh hải. Với “Hiệp định phân định biên giới Việt-Trung” và “Hiệp định phân chia vịnh Bắc bộ” được coi là một sự thất bại của Việt Nam, vì nó gây thiệt hại cho Việt Nam đến 227 km2 trên đất liền và 211.000 km2 trên biển, đặc biệt là Việt nam đã nhượng cho Trung Quốc những vùng biển có giá trị về kinh tế và chiến lược. Điều đáng tiếc, những địa danh lịch sử như Ải Nam Quan, vốn của Việt nam thì nay nằm sâu trong lãnh thổ Trung quốc 500m hay Thác Bản Giốc thì bị buộc phải chia cho Trung quốc một nửa.

Trên biển, trước Hội nghị Thành Đô thì ngư dân Việt nam tiến hành đánh bắt hải sản trên ngư trường truyền thống của mình, kể cả khu vực quần đảo Hoàng sa mà không hề gặp trở ngại nào. Nhưng kể từ sau Hội nghị Thành Đô, thì công việc làm ăn của họ bị lực lượng Kiểm ngư, Hải giám của Trung quốc cản trở, bắt giữ người và phương tiện, thậm chí bị bắn chết như trường hợp các ngư dân ở Thanh hóa. Song phía Việt nam đã không có hoặc có những phản ứng rất yếu ớt, không dám nói đích danh là tàu Trung quốc mà chỉ dám gọi là tàu nước lạ. Trên biển thì như thế, còn trên bộ thì Trung quốc đã lợi dụng danh nghĩa đầu tư để thuê các khu vực rừng đầu nguồn, hay tham gia các dự án đầu tư ở những khu vực quan trọng về quốc phòng trong thời gian 50-70 năm, thậm chí 120 năm. Bauxite Tây nguyên ở nóc nhà Đông Dương, Đặc khu Vũng Áng… với hàng nghìn công nhân Trung quốc là những ví dụ điển hình. Về chính trị thì chính quyền thẳng tay đàn áp, bắt bớ bỏ tù những người bày tỏ thái độ chống Trung quốc như blogger Điếu cày, bloggger Phạm Viết Đào hay nhà dân chủ Phạm Thanh Nghiên v.v… Không những thế họ còn cho trấn áp thô bạo các cuộc biểu tình chống Trung quốc do người dân tổ chức.

Tóm lại sau 24 năm Hội nghị Thành Đô, kết quả phía Trung quốc đạt được cho đến nay là: họ đã thò bàn tay nhớp nhúa vào rất sâu không chỉ là khống chế đối với nền kinh tế của Việt nam, mà kể cả việc thao túng các lãnh đạo cao cấp nhất của Đảng CSVN dưới chiêu bài xây dựng CNXH. Phải chăng đó là các bước tiến hành cần thiết cho việc gia nhập đại gia đình các dân tộc Trung Quốc, điều mà phía Trung Quốc đã đồng ý cho Việt Nam thời gian 30 năm (1990-2020) để Đảng Cộng sản Việt Nam giải quyết ?

Phản ứng của dư luận

Những bằng chứng kể trên thì buộc người ta phải nghi ngờ về những thỏa thuận từ Hội nghị Thành Đô. Việc các lãnh đạo cao cấp giữa hai nước họ đã bàn và thỏa thuận những gì thì chưa ai biết, nhưng trên thực tế cho thấy có những dấu hiệu Đảng CSVN đã và đang tự biến mình, cũng như cam tâm trở thành một chư hầu của Trung quốc. Điều đó càng thấy rõ hơn qua sự kiện giàn khoan HD-981 khi Việt nam chần chừ, rồi không dám khởi kiện Trung quốc ra Tòa án Quốc tế.

Sau Hội nghị Thành Đô, quan hệ ngoại giao giữa Việt nam và Trung quốc đã nhanh chóng được bình thường hóa và phát triển. Do nắm bắt được các điểm yếu được coi là tử huyệt sống còn của Đảng CSVN, chính quyền TQ đã dần gia tăng sức ép và đòi hỏi Việt nam đi từ nhượng bộ này đến nhượng bộ khác

Hầu như các thông tin về Hội nghị Thành Đô đã được Đảng CSVN và chính quyền giữ kín một cách tuyệt đối, đây là điều được coi là tuyệt mật, là vùng cấm. Thậm chí kể cả các Đại biểu Quốc hội và các đảng viên trong Đảng cũng không hề hay biết một chút gì, cho dù nội dung của nó liên quan đến vận mệnh của đất nước. Do vậy, trong một xã hội thiếu công khai minh bạch thì đây chính là đất sống cho các tin đồn. Kể cả tin đồn “Việt Nam gia nhập đại gia đình các dân tộc Trung Quốc” như là một khu vực tự trị giống như Nội Mông, Tây Tạng, Quảng Tây..” cũng không là ngoại lệ. Và sự tuyệt đối im lặng của ban lãnh đạo và truyền thông nhà nước trước tin đồn này càng làm cho những tin đồn bất lợi như thế gần với sự thật hơn, vì không phải họ nói “im lặng là đồng ý hay sao?”

Vào lúc này, không chỉ ở ngoài đời thường mà cả trên mạng xã hội người ta bàn tán về tin này với sự hoài nghi cao độ và với những sự giải thích khác nhau. Đáng chú ý là tin đồn này diễn ra sau khi câu chuyện Công hàm công nhận chủ quyền lãnh hải cho Trung quốc của Thủ tướng Phạm Văn Đồng sau một thời gian dài bị chính quyền Việt nam bưng bít, đã được công khai từ phía Trung quốc, trong sự kiện giàn khoan HD-981 mà phía Việt nam đã phải công khai thừa nhận. Khi phía Trung quốc đưa ra và coi đó là bằng chứng chính quyền Việt nam đã công nhận chủ quyền của Trung quốc đối với hai quần đảo Trường sa- Hoàng sa của Việt nam. Điều đó cho thấy không có gì là bí mật, nhất là khi điều tuyệt mật đó đang do Trung quốc – kẻ thù nắm giữ và bị họ biến thành thứ vũ khí để đe dọa và uy hiếp ban lãnh đạo Đảng CSVN. Những bí mật ấy, không chỉ nhằm để chia rẽ nội bộ Đảng CSVN, mà còn phân hóa người dân và chính quyền để họ không còn tin tưởng vào sự lãnh đạo của chính quyền

Đối với mọi người dân, bây giờ thì thông tin từ Hoàn cầu Thời báo hay Nhân dân Nhật báo nêu trên là hoàn toàn có cơ sở. Vì họ cho rằng điều này khá phù hợp với dư luận gần đây cho rằng sở dĩ chính quyền VN có các hành động phản ứng, phản kháng hết sức yếu ớt trước các hành động lấn át của TQ.

Phản ứng của các nhân sĩ trí thức và 61 Đảng viên kỳ cựu gần đây nhất đã đòi hỏi nhà nước phải bạch hóa sự kiện Thành Đô, mà theo họ cho biết họ không hề có hy vọng nhận được sự công khai minh bạch của nhà nước. Nhưng họ muốn thông qua các Thư ngỏ, Kiến nghị… nhằm để đánh động dư luận xã hội và thức tỉnh người dân trước nguy cơ Việt nam có thể biến thành một thuộc quốc. Điều quan trọng là cần công khai sự thật để đập tan luận điệu của bọn vẫn được gọi là 4 tốt, 16 chữ vàng giữa hai Đảng CS Việt nam và Trung quốc.

Vì vậy đối với mọi người dân, bây giờ thì thông tin từ Hoàn cầu Thời báo hay Nhân dân Nhật báo nêu trên là hoàn toàn có cơ sở. Vì họ cho rằng điều này khá phù hợp với dư luận gần đây cho rằng sở dĩ chính quyền Việt nam có các hành động phản ứng, phản kháng hết sức yếu ớt trước các hành động lấn át của Trung quốc là vì chính quyền Trung quốc đã nắm được tử huyệt của chính quyền Việt nam. Đó là các tin tức được coi là tuyệt mật về các thỏa thuận bí mật, mà phía Trung quốc cho rằng khi họ “bật mí” sẽ có khả năng làm sụp đổ chế độ hiện nay ở Việt nam. Vậy phải chăng tin đồn nói trên là một trong các tin tức tuyệt mật đó? Và còn bao nhiêu những điều tuyệt mật giữa hai Đảng, hai nhà nước Việt nam – Trung quốc sẽ được giải mật trong thời gian tới?

Kết:

Nói về lòng tin của quần chúng đối với Đảng CSVN, đầu năm 2013, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang cho rằng “Niềm tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ đang bị suy giảm do tệ tham nhũng, lãng phí, suy thoái đạo đức lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên. Nhưng tôi tin, nhân dân bao dung vẫn tin và kỳ vọng nếu Đảng kịp thời chỉnh đốn. Tuy vậy, không được lạm dụng lòng tin của nhân dân.” Nghĩa là Đảng sẽ tự đánh mất quyền lực hoặc sụp đổ nếu niềm tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ không còn. Song ngay cả việc bưng bít hay thiếu minh bạch về những vấn đề liên quan đến vận mệnh của đất nước cũng đã và đang dần làm xói mòn lòng tin của nhân dân

Việc một bộ phận không nhỏ các cán bộ, đảng viên tham nhũng, lãng phí, suy thoái đạo đức lối sống… làm cho niềm tin của người dân vào Đảng CSVN đã suy giảm là một thực tế không thể chối cãi. Song đó chỉ là chuyện quá nhỏ nếu so với điều mà tin đồn cho rằng, lãnh đạo Đảng CSVN “… bày tỏ mong muốn sẵn sàng chấp nhận làm một khu vực tự trị thuộc chính quyền Trung ương tại Bắc Kinh, như Trung Quốc đã dành cho Nội Mông, Tây Tạng, Quảng Tây….”. Vì đó nếu điều đó có thực thì sẽ là hành động bán nước cho Trung quốc, điều mà không có ai mang trong mình giòng máu Lạc Hồng có thể chấp nhận được.

Còn nhớ lời của Vua Trần Nhân Tông có nói rằng: “Một tấc đất của tiền nhân để lại, cũng không được để lọt vào tay kẻ khác. Đó là tội phải chu di tam tộc”.

Không biết ban lãnh đạo Đảng CSVN nghĩ gì về điều này? Còn chờ gì nữa, sao họ không lên tiếng để bác bỏ tin đồn có hại này, bằng cách bạch hóa toàn bộ “Kỷ yếu Hội nghị” của Hội nghị Thành Đô với nhân dân để xây dựng lòng tin nếu như tin trên là tin đồn nhảm. Chứ không thể im lặng một cách đáng ngờ như hiện nay, để người dân hoang mang mất lòng tin như vậy.

Ngày 08 tháng 8 năm 2014

© Kami

One thought on “Uẩn khúc Hội nghị Thành đô: Lòng tin và sự minh bạch

  1. TÚ CÙN 16/09/2014 / 05:34

    ” Một tấc đất của tiền nhân để lại, cũng không được để lọt vào tay kẻ khác. Đó là tội phải chu di tam tộc ” Vậy 227km2 đất liền và 211.000km2 trên biển, quy ra bao nhiêu tấc đất và phải chu di bao nhiêu ” tộc” của mấy ông .đi họp và ký . Tôi tin Lịch sử sẽ công bằng và sòng phẳng lắm ; Còn chuyện tự nguyện cam tâm xin làm chư hầu cho ông Tầu thì riêng tội tin không đến nỗi thế đâu vì Lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc VN đã chứng minh điều đó và các vị ấy cũng là người VN . Tôi nghĩ rằng . Tất cả chúng ta – những người VN , trong nước cũng như ngoài nước ( và kể mấy ổng ) cũng muốn thoát khỏi ông Tầu . Nhưng thoát bằng cách nào đây thì quả là ” nhức đầu ”
    Liên kết đơn phương với ông Mỹ , ông Nga cũng không xong vì các ông ấy ở cách chúng ta hàng vạn dạm ( Chưa nói đến chân lý ” không có tình hữu nghị vĩnh cửu mà chỉ có quyền lợi vĩnh cửu ). cần thiết họ sẵn sàng bán chúng ta ngay 1954 ( hội nghị Geneve ) 1972 ( ngoại giao bóng bàn ) 1975 ( Hoàng sa ) 1988 ( Trừơng sa ) và giàn khoan 981xem thái độ của ông ” anh cả ” chúng ta thì biết . . . Nên chăng chúng ta học người Nhật thời Minh Trị thiên hoàng . Chúng ta chơi với tất cả những con sói lớn . con nào bắt nạt tao thì mấy con kia cứu . nhưng tối thiểu mình cũng phải mài răng, rũa móng cho thật sắc đã

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s