Tị nạn việt nam – Bến bờ tự do

Tị nạn việt nam – Bến bờ tự do

 

Theo thống kê của Liên Hiệp Quốc, từ 1975 đến 1997, tổng cộng khoảng 839.000 người Việt Nam đã vượt biển trên những chiếc thuyền mong manh, tấp vào các trại tị nạn thuộc các quốc gia trong khu vực. Vẫn theo ước tính của Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc, trong số 839.000 thuyền nhân đó, ít nhất 10% bỏ mạng ngoài khơi, vĩnh viễn không bao giờ tới miền đất hứa.

Thuyền Nhân cũng là một giai đoạn lịch sử chưa thể sang trang, không thể sang trang, mà phải được ghi chép lại bằng mọi cách

Sau 30 tháng Tư 1975, thuyền nhân, vượt biển, người tị nạn Việt Nam, đột nhiên biến thành tâm điểm sự chú ý của thế giới. Bốn mươi năm qua rồi mà câu chuyện thuyền nhân vẫn chưa thể sang trang. Với những người ngồi xuống và viết lại hoặc thu thập lại tài liệu hay hồ sơ thuyền nhân Việt bao năm qua, đây là công việc không thể không làm dù như phải xoáy thêm con dao vào vết thương hãy còn rỉ máu.

Tị nạn việt nam – Bến bờ tự do – DVD1

Tiếp tục đọc

Advertisements

Danh Sách 117 Thánh Tử Ðạo Việt Nam

Danh Sách 117 Thánh Tử Ðạo Việt Nam

117 Vietnamese Martyrs

Prepared for internet by Vietnamese Missionaries in Taiwan

Danh Sách 117 Thánh Tử Ðạo Việt Nam, được Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II Tuyên Phong Thánh tại Rôma ngày 19/06/1988:

  1. Anrê Trần An Dũng Lạc, Sinh năm 1795 tại Bắc Ninh, Linh mục, bị xử trảm ngày 21/12/1839 tại Ô Cầu Giấy dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 21/12.
  2. Anrê Nguyễn Kim Thông (Năm Thuông), Sinh năm 1790 tại Gò Thị, Bình Ðịnh, Thầy giảng, chết rũ tù ngày 15/07/1855 tại Mỹ Tho dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 11/04/1909 do Ðức Piô X, lễ kính vào ngày 15/07.
  3. Anrê Trần Văn Trông, Sinh năm 1808 tại Kim Long, Huế, Binh Sĩ, bị xử trảm ngày 28/11/1835 tại An Hòa dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 28/11.
  4. Anrê Tường, Sinh tại Ngọc Cục, Xuân Trường, Giáo dân, bị xử trảm ngày 16/06/1862 tại làng Cốc dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 29/04/1951 do Ðức Piô XII, lễ kính vào ngày 16/06.
  5. Antôn Nguyễn Ðích, Sinh tại Chi Long, Nam Ðịnh, Giáo dân, bị xử trảm ngày 12/08/1838 tại Bẩy Mẫu dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 12/08.
  6. Antôn Nguyễn Hữu Quỳnh (Năm), Sinh năm 1768 tại Mỹ Hương, Quảng Bình, Y sĩ, bị xử giảo ngày 10/07/1840 tại Ðồng Hới dưới đời vua Minh Mạng, đước phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 10/07.
  7. Augustinô Schoeffler (Ðông), Sinh năm 1822 tại Mittelbonn, Nancy, Pháp, Linh Mục Thừa sai người Pháp, Hội Thừa Sai Paris, bị xử trảm ngày 1/05/1851 tại Sơn Tây dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Lêô XIII, lễ kính vào ngày 1/05.
  8. Augustinô Phan Viết Huy, Sinh năm 1795 tại Hạ Linh, Bùi Chu, Binh Sĩ, Giáo dân dòng ba, bị xử lăng trì ngày 12/06/1839 tại Thừa Thiên dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 12/06.
  9. Augustinô Nguyễn Văn Mới, Sinh năm 1806 tại Phù Trang, Nam Ðịnh, Giáo dân, dòng ba Ða Minh, bị xử giảo ngày 19/12/1839 tại Cổ Mê dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII, lễ kính vào ngày 19/12.
  10. Tiếp tục đọc

Chạy Giặc CS 30 Tháng 4 Năm 1975

Quốc Hận 30/4 – Kể Lại Tội Ác Của Việt Cộng 1975

MẸ VN ƠI, VÌ AI MÀ CHÚNG CON KHỔ THẾ NẦY.???

1. Tại Ban Mê Thuột

– 2 giờ 20 sáng ngày thứ hai – 10 tháng 3 năm 1975, quân cộng sản bắc Việt bắt đầu nã pháo đại bác 130 ly, hỏa tiễn 122 ly vào các cứ điểm quân sự và Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu.

– 4 giờ chiều ngày thứ hai – 10 tháng 3 năm 1975, quân cộng sản bắc Việt chiếm thị xã Ban Mê Thuột, ngoại trừ khu vực Bộ tư lệnh sư đoàn 23 bộ binh còn được trấn giữ…

 

– 6 giờ chiều ngày 10 tháng 3 năm 1975, trận chiến giữa Việt Nam Cộng Hòa và cộng sản bắc Việt được coi như kết thúc. Thành phố bây giờ như một bãi tha ma, chứa đầy tử khí. Những đống tro tàn của nhiều khu phố bị cháy, bụi khói và gạch vụn gợi cho người ta cái cảm xúc của một chiến trường tàn cuộc lạnh lẽo rợn người”. (Nguyễn Định, BMTNĐCC.) – theo nguồn Quốc Gia Hành Chánh

Tiếp tục đọc

Pentagon Papers — Sau 40 Năm Bí Mật

Pentagon Papers — Sau 40 Năm Bí Mật

Sau 40 Năm Bí Mật

Đầu mùa hè năm 2011, thế giới lên cơn sốt về việc Trung Cộng tạo căng thẳng ở Biển Đông thì ai nấy đều ngóng trông nơi Hoa Kỳ với niềm hy vọng Hoa Kỳ sẽ là cứu tinh giúp họ đối phó với mộng bành trướng của Trung Cộng.  Nhưng ngày 14/6/2011, Văn Khố Quốc Gia (National Archives) của Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ cho giải mật (declassify) 7000 trang hồ sơ về những vấn đề của Việt Nam và Đài Loan hơn 40 năm trước làm cho niềm tin của nhiều người nơi Hoa Kỳ tan thành mây khói.  Sau đó, National Security Archive ở George Washington University đưa ra thêm 28,000 trang hồ sơ, trong đó có những mẫu đối thoại đi vào chi tiết giữa hai Ngoại Trưởng Henry Kissinger và Chu Ân Lai càng làm cho nhiều người nhìn ra sự thật phũ phàng Hoa Kỳ đã bán đứng Việt Nam Cộng Hòa và Đài Loan để đổi lấy sự làm hòa và giao thương với Trung Cộng.

Tài liệu này tung ra làm cho hồi ký của Kissinger xuất bản năm 1979 (The Memoirs) không còn giá trị vì nhiều điều trong hồi ký của Henry Kissinger viết đều sai với những chi tiết trong tài liệu này. Hồi ký của Henry Kissinger viết là để đánh bóng cá nhân và để chạy tội cho bàn thân. Tài liệu lịch sử của Văn Khố cho thấy chính sách của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ là đặt quyền lợi nước Mỹ là tối thượng cho dầu chính sách này đưa đến sự phản bội những đồng minh cũng như phải dấu diếm và lừa cả chính dân chúng và Quốc Hội Hoa Kỳ.

Tiếp tục đọc

TẢN MẠN VỀ RỒNG

TẢN MẠN VỀ RỒNG

Trần-Đăng Hồng

 

Trong 12 con giáp của âm lịch, 11 con thú là có thật trên địa cầu (chuột, trâu, cọp, mèo, rắn, ngựa, dê, khỉ, gà, chó, heo), chỉ có con rồng (thìn) là một loài thú thần thoại, nghĩa là không có thật.
Không những là con thú thần thoại của văn hóa Đông Phương, nhất là văn hóa Trung hoa, mà văn hóa Âu Tây cũng có con rồng thần thoại. Một đặc điểm chung ở mọi văn hóa, rồng đều tượng trưng cho sức mạnh phi thường.

 

Tiếp tục đọc

Bộ tranh “Việt Nam Anh Hùng”

Bộ tranh “Việt Nam Anh Hùng”

Viet Toon

Xin giới thiệu đến bạn đọc bộ tranh “Việt Nam Anh Hùng” do Viet Toon thực hiện. Lời chú thích bên dưới các tấm hình là của tác giả.

Mẹ Âu Cơ bảo vệ lãnh thổ! Y phục dựa theo y phục đồng bào miền núi và vương miện trên trống đồng. Quyền trượng có hoa sen làm đài nâng 2 nhành lúa trĩu hạt bao quanh bản đồ Việt nam – tượng trưng cho dân tộc Việt nam. Tranh vẽ theo lối fantasy và vẽ nhân dịp đồng bào biểu tình chống Trung Cộng tại Sài gòn và Hà nội tháng 5, và 6, 2011

Thực Lực Về Cuộc Ðấu Tranh Chống Ngoại Xâm Dưới Thời Quân Minh Cai Trị. 2

Thực Lực Về Cuộc Ðấu Tranh Chống Ngoại Xâm Dưới Thời Quân Minh Cai Trị. 2
Hồ Bạch Thảo

 

Tác giả khai thác bộ sử Nhà Minh, đối chiếu với các bộ sử Việt Nam, để vạch lại, theo trình tự thời gian, cuộc đấu tranh chống ngoại xâm 1407-1427.phần 1 theo diendan, kể từ phần 2 theo bản tác giả gửi.

Qua những điểm tương phản, câu hỏi cần đặt ra là: Trước khi khởi nghĩa vua Lê Lợi có hợp tác với nhà hậu Trần và nhà Minh hay không? Nhắm tìm hiểu rộng thêm, hãy tham khảo Lam Sơn Thực Lục, có đoạn chép:

…Tuy giặc có khéo léo, khôn ngoan nhiều cách, mà tráng chí của nhà vua , trước sau chẳng chịu chùng. Thế nhưng trong lúc thế giặc còn mạnh , chưa dễ đánh được nào . Nhà vua thường hậu lễ nhún lời, đem nhiều vàng bạc đút lót cho các tướng giặc là bọn Trương Phụ, Trần Trí, Sơn Thọ, Mã Kỳ; mong thư bớt lòng hãm hại nhà vua, để nhà vua đợi thời lừa dịp.

Đảng của giặc là Lương Nhữ Hốt bàn với bọn giặc, nói rằng :

-Chúa Lam Sơn chiêu vong, nạp bạn, đãi quân lính rất hậu, chí nó chẳng nhỏ  Nếu thuồng luồng gặp được mây mưa, thì tất không phải là vật ở trong ao đâu. Nên sớm trừ đi, để sau sinh vạ.

Năm Mậu Tuất (1418) khi ấy nhà vua khởi quân tại Lam Sơn.” (2)

Tiếp tục đọc

Thực lục về cuộc đấu tranh chống ngoại xâm dưới thời quân Minh cai trị

Về cuộc kháng chiến chống quân Minh : Thực lục về cuộc đấu tranh chống ngoại xâm dưới thời quân Minh cai trị
Hồ Bạch Thảo

 

Tác giả khai thác bộ sử Nhà Minh, đối chiếu với các bộ sử Việt Nam, để vạch lại, theo trình tự thời gian, cuộc đấu tranh chống ngoại xâm 1407-1427.

Dẫn nhập

 

Người yêu nước và lo cho nước đều khắc khoải hướng về tương lai, bởi kẻ thù phương Bắc vẫn là mối đe doạ lớn ; nếu chúng thực sự đặt chân đến nước ta, thì dân ta sẽ có phản ứng như thế nào ? Sự việc chưa xẩy ra, không thể dựa vào tình cảm nhất thời mà suy đoán ; cách làm việc khoa học và đáng tin cậy nhất là căn cứ vào lịch sử để xét tương lai, đúng như lời người xưa khuyên “ôn cố tri tân” (1).

 

Suốt chiều dài lịch sử, nước ta trải qua ngàn năm bị Trung Quốc đô hộ, trong đó triều đại đặt guồng máy cai trị chặt chẽ toàn diện nhất, phải kể đến nhà Minh. Về hành chánh, lúc khởi đầu chúng chia nước ta thành 15 phủ, 41 châu, 208 huyện ; đứng đầu mỗi đơn vị lớn nhỏ là Tri phủ, Tri châu, Tri huyện. Về phương diện quân sự lúc bình thời đặt 10 vệ, 2 Thiên hộ sở ; theo biên chế quân đội nhà Minh mỗi vệ có 5.600 quân, mỗi Thiên hộ sở 1.210 quân, như vậy tổng số là 58.420 ; tại các địa điểm quan trọng như đầu mối lưu thông, các cửa sông rạch lại đặt thêm ty Tuần kiểm, khởi đầu có đến 100 ty. Ðó là không kể lúc có biến tại Ðô ty Giao Chỉ tăng thêm vệ, sở và những đạo quân của Mộc Thạnh, Trương Phụ, Vương Thông, Liễu Thăng lần lượt sang tiếp viện, mỗi lần trên dưới 10 vạn tên, số lượng ty tuần kiểm cũng được tăng thêm :

Tiếp tục đọc