14 điều răn của cổ nhân

14 điều răn của nhà Phật 

Trích lời Kinh Phật, Hoà thượng Kim Cương Tử (1914 – 2001)

Xã hi phát trin đến mc nào đi na thì nhng giá tr truyn thng phương Đông, tc là ci ngun văn hóa ca mi dân tc Châu Á vn cn phi được bo tn và trân trng. Tuy là vn c, nhưng nếu xét v nhân sinh quan đi vi con người hin đi thì dường như không c chút nào hay nói đúng hơn là câu ch cũ, còn ý nghĩa thc tế vn hoàn toàn mi m.

Đây chính là điều đáng bàn luận và suy ngẫm, vì như sách “Minh tâm bảo giám” nhận xét: “Người xưa tuy hình dáng như thú, nhưng lòng như có đại thánh ở trong. Người nay tuy hình dáng người nhưng lòng lại thú, biết đâu mà lường. Có lòng không có tướng, tướng sẽ tự lòng mà sinh ra. Có tướng mà không có lòng, tướng sẽ theo lòng mà mất đi”. Phải chăng, vì lẽ ấy mà vô số điều khuyên răn của các bậc tiền bối vô cùng hữu ích cho cách đối nhân xử thế của những người chịu ảnh hưởng giáo dục của Nho giáo, Phật giáo. Tựu trung lại, đó chính là những tâm bệnh như sau:

  1. Kẻ thù lớn nhất của đời người là chính mình

Không có k thù nào to ln và nguy him bng chính bn thân ta. Tà ý xấu xa vốn là kẻ thù tiềm ẩn lớn nhất của đời người mà tự ta khó vượt qua nổi. Thật là nghịch lý khi bao khó khăn, thử thách, gian nan do khách quan mà nhờ tinh thần, ý chí quyết tâm ta đều vượt qua. Nhưng, khi trong tâm có bệnh thì lại chịu thua, như dao sắc không gọt được chuôi vậy. Đúng như nhận định trong thế giới có bốn điều tự hủy hoại là: Cây nhiều hoa, quả nặng quá, sẽ gãy cành, rắn độc mang nọc độc nhưng lại bị giết để lấy nọc, kẻ làm việc nước không hiền tài, thì sẽ hại dân hại nước, kẻ làm điều bất thiện sẽ bị quả báo, cho nên sách Kinh dạy rằng: “Sự độc ác do tâm sinh ra, sẽ quay lại tự hại bản thân mình, cũng như sắt tạo ra chất gỉ rồi chất han gỉ ấy sẽ tiêu hủy dần thân hình của sắt”. Suy nghĩ xa hơn và kỹ hơn về giáo lý ấy thì càng rõ, nếu ta không vượt qua được chính bản năng của mình thì lương tâm và trí tuệ, lương tâm và trí tuệ của ta cũng sẽ bị xói mòn mục ruỗng, chẳng mấy chốc mà thành phế nhân. Ngạn ngữ vẫn cho rằng: “Tốt gỗ hơn tốt nước sơn”, nội dung bên trong hoặc phần tinh thần không nhìn thấy được ấy mới quyết định bản chất của một chính nhân thực thụ, bởi đơn giản là: “Con người biểu lộ tính ưu việt của mình ở bên trong, chỉ có con vật mới lộ ra bên ngoài thôi”.

Tiếp tục đọc

Advertisements

Hiến Pháp Cộng Hoà: Lý Thuyết của Immanuel Kant và Thực Tế tại Việt Nam

Lý Thuyết của Immanuel Kant và Thực Tế tại Việt Nam

Vấn đề

Hiến pháp là nền tảng pháp lý cho sự chung sống của một dân tộc và là điều kiện tiên quyết cho sự thịnh vuợng của đất nước. Hiện nay vấn đề sôi nổi trong công luận là tìm một mô hình thích hợp và một lộ trình khả thi cho việc tu chỉnh Hiến pháp Việt Nam. Các góp ý xoay quanh các chủ đề du nhập nguyên tắc tam quyền phân lập, lập mối ràng buộc giữa Đảng quyền và luật pháp, trao lại thẩm quyền lập hiến cho toàn dân, nâng cao kỹ năng lập pháp và lập quy của quốc hội và tôn trọng thực thi nhân quyền của chính quyền là chính.

Để đóng góp vào việc thảo luận chung, tiểu luận sau đây sẽ giới thiệu mô hình hiến pháp theo thể chế cộng hoà, một luận điểm về luật Hiến pháp mà Immanuel Kant đã cổ vũ trong luận thuyết „Hướng về một nền hoà bình vĩnh cữu“ để làm cơ sở sở chiếu với hiện trạng Hiến pháp Việt Nam.

Lý thuyết của Immanuel Kant

Immanuel Kant (1724-1804) là giáo sư Siêu hình học và Đạo đức học tại đại học Königsberg thuộc Phổ nay là Kaliningrad thuộc Nga. Với các tác phẩm kinh điển bậc nhất như Kritik der reinen Vernunft, Kritik der praktischen Vernunft Kritik der Urteilskraft ông là một triết gia hàng đầu trong phong trào khai sáng tại phương Tây và được hậu thế tôn vinh là ngưòi khai sinh ra môn Đạo đức học hiện đại.

Tác phẩm

Trong chiều hướng đóng góp cho nổ lực hoà đàm giữa Pháp và Phổ tại Basel, Kant đã giới thiệu một sơ thảo triết học „Zum ewigen Frieden“ (1795) „Hướng về một nền hòa bình vĩnh cữu“ nhằm thảo luận về những nguyên tắc để đem lại một nền hoà bình cho nhân loại. Điểm quan trọng trong luận văn này của Kant là đặt lại mối quan hệ giữa luật hiến pháp và luật quốc tế, cổ vũ tinh thần thượng tôn luật pháp trong việc giải quyết các tranh chấp quốc nội và hợp tác quốc tế. Trong lĩnh vực soạn thảo luật hiến pháp ông cho rằng “Hiến pháp dân sự của mọi quốc gia phải theo thể chế cộng hòa”, đây là một điều kiện tiên quyết mà nội dung sẽ được trích dịch và dẫn luận sau đây.

Tiếp tục đọc

Nguyễn Đắc Kiên: Vài lời với TBT ĐCS VN Nguyễn Phú Trọng

Nguyễn Đắc Kiên: Vài lời với TBT ĐCS VN Nguyễn Phú Trọng


Nguyễn Đắc Kiên                                                                Nguyễn Phú Trọng

 

Vài lời với TBT ĐCS VN Nguyễn Phú Trọng

Chương trình Thời sự VTV1, 19h, ngày 25/2 đưa phát biểu tại Vĩnh Phúc của TBT ĐCS Việt Nam Nguyễn Phú Trọng như sau: “… Vừa rồi đã có các luồng ý kiến thì cũng có thể quy vào được là suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống chứ gì nữa … Xem ai có tư tưởng là muốn bỏ Điều 4 Hiến pháp không, phủ nhận vai trò lãnh đạo của đảng không? Muốn đa nguyên đa đảng không? Muốn ‘tam quyền phân lập’ không? Hả? Muốn ‘phi chính trị hóa quân đội’ không? Người ta đang có những quan điểm đấy!… Đưa cả lên phương tiện thông tin đại chúng đấy. Thì như thế là suy thoái chứ còn gì nữa! Chỉ ở đâu nữa nào? … Tham gia đi khiếu kiện, biểu tình, ký đơn tập thể … thì nó là cái gì?! … Cho nên các đồng chí quan tâm xử lý cái này.”(*)

Bằng tất cả sự tôn trọng với người đang đứng đầu một đảng chính trị của VN, tôi xin nói với ông Nguyễn Phú Trọng vài lời như sau:

Đầu tiên, cần phải xác định, ông đang nói với ai? Nếu ông nói với nhân dân cả nước thì xin khẳng định luôn là ông không có tư cách. Ông là Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, nếu muốn dùng hai chữ “suy thoái” thì cùng lắm là ông chỉ có thể nói với những người đang là đảng viên cộng sản, ông không đủ tư cách để nói lời đó với nhân dân cả nước. Nếu ông và các đồng chí của ông muốn giữ Điều 4, muốn giữ vai trò lãnh đạo, muốn chính trị hóa quân đội, không muốn đa đảng, không muốn tam quyền phân lập, thì đó chỉ là ý muốn của riêng ông và ĐCS của ông. Ông không thể quy kết rằng đó là ý muốn của nhân dân Việt Nam. Tuy nhiên, cũng cần phải nhấn mạnh rằng, những ý muốn trên chỉ nên xem là của riêng ông TBT Trọng, chưa chắc đã là tâm nguyện của toàn bộ đảng viên cộng sản hiện nay.

Tiếp tục đọc

Bất Tuân Dân sự: “Civil Disobedience”

Bất Tuân Dân sự: “Civil Disobedience”

Mohandas Karamchand Gandhi [2 October 1869 – 30 January 1948). Tên thông dụng của Ông: Mahatma Gandhi

Phản Ứng Từ Lòng Dân

Trong những năm vừa qua tại Trung Đông và Bắc Phi, rồi tại Châu Á, và cả Việt Nam, đã dồn dập xẩy ra những phản ứng xác đáng từ lòng dân.  Đó là những cuộc tranh đấu cho công lý, chính nghĩa, cho tự do dân chủ và nhân quyền lâu nay bị chèn ép, tước đoạt bởi các chế độ toàn trị, sai lầm; bởi các chính quyền tham nhũng, bất xứng, phản quốc, hại dân.

Riêng tại Việt Nam, đó là những tiếng nói của lương tâm, những gào thét của dân oan mất đất mất nhà, mất nơi thờ phụng, những tiếng kêu cầu cứu, phẫn nộ của giới lao động bị bóc lột, lừa đảo, bị công khai đem bán nơi chợ người, trên thế giới.  Đó là những cuộc xuống đường liên tiếp tại Hà Nội, Sàigòn của toàn dân đòi lại quần đảo Hoàng Sa, Trường sa, đòi cắt “lưỡi bò” điên Hán tộc, dù nhà cầm quyền CSVN — ác với dân, hèn với giặc — tiếp tục bỏ tù những ai yêu nước xuống đường chống Tầu hải tặc.

Tiếp tục đọc

Phản biện xã hội: Ai?

Nguyễn Phương

Như tiêu đề cho thấy, bài viết dưới đây của Nguyễn Phương nhắm trả lời câu hỏi: Ai là người (có trách nhiệm, có chức năng) phản biện xã hội? Cuối bài tác giả dùng một câu trong sách thay cho kết luận của mình với với hai ý chính mà có lẽ số đông chúng ta tán thành:

Phản biện xã hội là sản phẩm trí thức, nhưng không phải riêng của trí thức.

Trí thức phải đi tiên phong trong phản biện xã hội,  cho nên nếu không lên tiếng đóng góp cho xã hội tiến bộ thì đó chỉ là Trí thức nửa mùa.

Ý thứ nhất hẳn không cần tranh luận vì không cần là “người Trí thức 智 識” vẫn có thể có những “Tri thức 知 識” để phản biện xã hội.

Riêng ý thứ hai trong kết luận này đang gặp một số phản biện, rằng không nhất thiết phải tham gia hay phải “tiên phong” trong phản biện xã hội, người Trí thức mới xứng đáng là Trí thức (nghĩa là có thêm thì tốt, nhưng không có cũng không sao). Vì sản phẩm Trí thức chính của người Trí thức là ở sản phẩm chuyên môn của họ, để yên cho họ tập trung vào sở trường ấy có thể còn có lợi cho xã hội hơn.

Cuộc tranh luận này vì thế liên quan đến cuộc “mổ xẻ” các khái niệm: phản biện xã hội là gì, Trí thức là gì, là ai? Trí thức cũng là một danh vị thông thường hay một danh vị cao siêu?…

Xin được góp ba gợi ý nhỏ:

– Có những khái niệm chỉ có thể định tính, không thể định lượng nên có thể hiểu ở nhiều tầm vóc khác nhau: ví dụ ông này cũng vẫn là Trí thức nhưng như ông kia thì Trí thức hơn, hay như bà nọ mới thật tiêu biểu cho Trí thức.

– Khi học văn, học toán… thì chẳng những học kiến thức văn hay toán, nhưng điều quan trọng hơn là học trong đó những tư duy toán, tư duy văn, tức những phương pháp tư duy khoa học, mà PHƯƠNG PHÁP TƯ DUY khoa học thì không còn ranh giới trong chuyên môn hẹp nữa, dễ dàng xâm nhập sang nhau. Vì thế đã sang phạm trù TRÍ THỨC thì những ranh giới chuyên môn không còn ngăn cách nữa, họ dùng các phương pháp tư duy khoa học ấy trong mọi trường hợp.

– Trí thức cũng là những con người cụ thể. Người Trí thức phải căn cứ vào tài năng cụ thể của mình, phải sống với tình hình cụ thể của xã hội và đất nước mình, từ đấy mà tìm lấy đáp số cho bài toán ứng xử của mình, không thể có một đáp số chung. Đáp số đúng nhất sẽ cho hiệu quả cao nhất. Hiệu quả cao nhất là đối với xã hội, Trí thức phải trả nợ xã hội , vì người Trí thức mắc nợ xã hội nhiều hơn ai hết!

Hà Sĩ Phu

Tiếp tục đọc

Người Trí Thức Đưa Đất Nước Đi Lên

Nguyen Quang Duy
February 4, 2012

   Người Trí Thức
Đưa Đất Nước
Đi Lên

 Hoa Kỳ luôn giữ vai trò cường quốc số một thế giới là nhờ đã đặt giá trị của con người đúng mức. Nhất là  giá trị những người trí thức. Về lý thuyết Hoa Kỳ có cả một trường phái kinh tế học ra đời vào những năm 1980, chứng minh được tăng trưởng và phát triển quốc gia tùy thuộc vào tri thức (new growth theory).

Dựa vào lý thuyết và thực tiễn chứng minh được, người theo trường phái này hướng đến những chính sách xây dựng môi trường phát huy và tận dụng những tài sản trí tuệ nhân lọai. Họ cổ vũ việc các quốc gia muốn phát triển cần tôn trọng nhân quyền, dân chủ, tự do và khuyến khích một thế giới tự do trên mạng tòan cầu.

Tiếp tục đọc

Václav Havel – Quyền lực của Không Quyền lực 4 (Hết)

Václav Havel – Quyền lực của Không Quyền lực 4 Hết

Khải Minh dịch và giới thiệu. Lâm Yến hiệu đính

 

XVI.

Hệ thống hậu toàn trị đồng nghĩa với cuộc tấn công tổng lực vào con người, và con người đứng lên chống lại nó một cách cô độc, bị bỏ quên và cô lập. Cho nên, rất tự nhiên là mọi “phong trào bất đồng chính kiến” đều là các phong trào tự vệ rõ rệt: chúng tồn tại để bảo vệ con người và những mục tiêu chân chính của cuộc sống chống lại các mục tiêu của hệ thống.

Ngày nay, nhóm KOR Ba Lan được gọi là “Ủy ban vì Tự vệ Xã hội”. Từ “tự vệ” xuất hiện trong những cái tên của các tổ chức khác ở Ba Lan, nhưng thậm chí Nhóm quan sát Helsinki ở USSR (Liên bang Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Xô viết) và chính Hiến chương 77 của chúng ta cũng có tính tự vệ trong bản chất.

 

Tiếp tục đọc

Sự Phân Biệt Và Bình Đẳng Nam Nữ — Vai Trò Nữ Giới Trong Công Cuộc Phát Triển Kinh Tế Toàn Cầu

Sự Phân Biệt Và Bình Đẳng Nam Nữ — Vai Trò Nữ Giới Trong Công Cuộc Phát Triển Kinh Tế Toàn Cầu

Thuy-Khue Tran

Thuy-Khue Tran

Gender Equality and Gender Equity – Women’s Role in the Development of Global Economy

Thuy-Khue Tran
Bản dịch của Tiêu Duy Anh

Lời Tòa Soạn. Bản nghiên cứu đề tài trên đây do VITAL VOICES – Global Partnership, một tổ chức phi chính phủ (Non Government Organization – NGO) đề xướng vào dịp Hè 2011.  Có 2000 Sinh Viên các trường đại học tại Hoa Kỳ gởi bài dự thi. Trong phần sơ khảo, bài viết của năm (5) Sinh viên được chọn trao Giải thưởng “Discover Prize” 2011 bằng hiện kim, vé máy bay và khách sạn. Lễ trao giải Sơ Khảo đã được tổ chức vào tuần lễ đầu tháng 11/ 2011 tại thành phố Chicago.

Để chọn giải chung khảo, năm tiểu luận trúng giải nói trên được trao cho các vị Đại sứ của năm nước nhân dịp lễ nhậm chức tân Tổng thống Chile đọc và cho điểm. Kết quả, bài tiểu luận của Thụy-Khuê, 19 tuổi, SV năm thứ hai ngành Kinh Tế Tài Chánh tại Đại học University of Chicago được điểm cao nhất trong số hai ngàn bài dự thi. Lễ phát giải thưởng “Annual Global Leadership Award” này sẽ được tổ chức vào ngày 6 tháng 6 -2012 tại Trung Tâm Trưng bày Nghệ Thuật John F. Kennedy , Washington D.C. có sự tham dự của nữ Ngoại Trưởng Hillary Clinton cùng một số nữ chính khách Hoa Kỳ và các nước.

Tạp chí Nguồn Xin cống hiến bạn đọc bài tiểu luận đã được dịch giả Tiêu Duy Anh chuyển ngữ sang tiếng Việt.

* * *

Tiếp tục đọc

Nhân Tài Đất Việt Kẹt Ở Đâu ?

Nhân Tài Đất Việt Kẹt Ở Đâu ?

Nước ta tuy nhỏ, người không đông nhưng như Nguyễn Trãi viết “hào kiệt không lúc nào thiếu”. Ngay từ năm 1484, Tiến sĩ Thân Nhân Trung đã khắc trên văn bia ở Quốc Tử Giám, Hà Nội rằng: “ Hiền tài là nguyên khí quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu rồi xuống thấp. Bởi vậy các bậc vua tài giỏi đời xưa, chẳng có đời nào lại không chăm lo, nuôi dưỡng và đào tạo nhân tài, bồi đắp nguyên khí”. Điều ấy chứng tỏ cha ông ta rất coi trọng việc phát hiện, sử dụng hiền tài để xây dựng và bảo vệ đất nước. Mặc dù cũng có lúc “ nhân tài như lá mùa thu, tuấn kiệt như sao buổi sáng” nhưng đất nước thời nào cũng sinh ra những hào kiệt để gánh vác trọng trách của lịch sử. Song hình như hiện nay hiền tài đất Việt đang có nhiều vấn đề bức xúc như hiện tượng chảy máu chất xám, nhân tài không thiếu nhưng phải đốt đuốc kiếm tìm và nhân tài đất Việt đang bị nghẽn kẹt ở đâu đó… Nhằm tìm kiếm những câu trả lời, ngày 27-9-2011, Hội khoa học phát triển nguồn nhân lực- nhân tài Việt Nam đã tổ chức cuộc hội thảo khoa học ‘Nhân tài với thịnh suy đất nước” tại Trung tâm Hội nghị quốc tế Hà Nội. Tham dự hội thảo có nhiều chuyên gia khoa học, quan chức trung cao cấp. Gần 50 báo cáo tham luận và ý kiến đã được trình bày.

Tiếp tục đọc